ĐẠI TÙY CẦU CHƠN KINH (HỘ THÂN TIÊU NGHIỆP TĂNG TRƯỞNG PHƯỚC HUỆ)♥️👑♥️

MẬT TẠNG
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:
Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức
Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---
MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 26

BỒ TÁT ĐẠI TÙY CẦU

DẪN NHẬP

         Bồ Tát Đại Tùy Cầu có tên Phạn là Maha Pratisàrah, dịch âm là Ma Ha Bát La Để Tát Lạc, lược xưng là Bồ Tát Tùy Cầu Ngài là một Hóa Thân của Bồ Tát Quán Âm và là một Tôn trong Quán Âm Viện trong Thai Tạng Giới Man Đa La của Mật Giáo. Do Tôn này thường tùy theo sự nguyện cầu của chúng sanh mà diệt trừ tội Vô Gián; trừ tai nạn về nước, lửa, đao binh, thuốc độc; trừ nạn rồng cá; miễn trừ nạn vua quan; cầu mưa; làm ngưng mưa gió; ban cho con cái, giúp được vãng sinh về cõi Cực Lạc…. nên có tên là Đại Tùy Cầu.
         Tôn này có thân hình màu vàng đậm, 8 cánh tay dơ cao theo dạng Vô Úy. Bên phải, theo thứ tự 4 tay cầm: Chày Kim Cang Ngũ Cổ, Kích Xoa, Kiếm báu, Búa. Bên trái, 4 tay theo thứ tự cầm: Hoa sen (hoặc bánh xe), Rương Kinh Phạn, Phướng báu, sợi dây.
         Theo Chùa Thiền Lâm, thì tay bên phải cầm sợi dây, tay bên trái cầm Kích Xoa. Như vậy thì 2 vật khí này được ghi nhận trái ngược nhau. Nay căn cứ vào Bản Kinh Phổ Biến Quang Minh Thanh Tĩnh Xí Thạnh Như Ý Bảo Ấn Tâm Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Đại Tùy Cầu Đà-La-Ni, thì 4 bài Chân Ngôn ghi trong quyển Thượng biểu thị cho Vô Năng Thắng Minh Vương Đại Tâm Chân Ngôn hàm chứa 4 tay Ấn: Ngũ Cổ Kim Cang Ấn, Phủ Việt Ấn, Sách Ấn, Kiếm Ấn. Còn 4 bài Chân Ngôn ghi trong quyển Hạ biểu thị cho Vô Năng Thắng Minh Phi Đại Tâm Chân Ngôn bao hàm 4 tay Ấn: Luân Ấn, Tam Cổ Xoa Ấn, Như Ý Bảo Ấn, Đại Minh Tổng Trì Ấn. Do vậy, thì vật khí bên trái chính là sợi dây và vật khí bên phải chính là cây Kích.
         Tôn này có Mật Hiệu là Dữ Nguyện Kim Cang. Chủng Tử là Pra (     ) biểu thị cho Chân Đế (Pa: Nhất Nghĩa Đế) vàTục Đế (Ra: Bụi của cõi tục), nên được xưng là Lý Trí Bất Nhị Tôn. Tam Muội Gia Hình là rương Kinh Phạn (Phạn Khiếp) là Lý biểu thị cho Định Tuệ Nhất Thể. Ngoài ra, Tôn này còn có các Chủng Tử khác là: Sa,Vam, Ah, Hùm với Tam Muội Gia Hình là: Chày Ngũ Cổ, Tháp Suất Đỗ Ba trong đó có chứa rương Kinh Phạn.
         Theo Tùy Cầu Bát Ấn tinh (và) Thập Đại Ấn (1 Quyển Duy Cẩn-Từ Vận) thì có 10 Ấn, nhưng chỉ lưu truyền cho thế gian 8 Ấn. Tám Ấn này biểu thị cho 8 vật khí cầm tay, khi kết các Ấn này sẽ hiển hiện 8 tay của Bổn Tôn. Trong đó, 4 tay bên phải với 4 Chân ngôn biểu thị cho Vô Năng Thắng Minh Vương; 4 tay bên trái với 4 Chân ngôn biểu thị cho Vô Năng Thắng Minh Phi.
         Tám Ấn Chân Ngôn là :
            1. Ấn Ngũ Cổ Kim Cang Xử (Ấn Căn Bản): Hai tay cài chéo nhau bên trong rồi nắm lại thành quyền (Nội tương xoa) hợp cứng 2 ngón giữa, đặt 2 ngón trỏ ở sau ngón giữa và hơi co lại như móc câu. Đều hợp cứng 2 ngón út và 2 ngón cái, rồi hơi co lại liền thành. Ấn này còn được gọi là Ấn Tùy Cầu Đại Hộ Minh Vương, Ấn Phát Bồ Đề Tâm, Ấn Sám Hối. Khi kết xong thì gia trì ở 5 nơi là: trái tim, đỉnh đầu, tam tinh, lông mày bên phải, lông mày bên trái. Chân Ngôn là Avìra Hùm Kham, trong đó A(Trì quốc: Giữ gìn đất nước)  (Lấy Đại Bi làm gốc) Ra (Phương tiện làm cứu cánh) Hùm (Tất cả Như Lai Bí Mật Thần Thông) Kham (Các Pháp chân thật: Tất cả các Pháp rốt cuộc quy về Không Không) hoặc Đại Chân Ngôn.
         Đại Chân Ngôn tên Phạn là Mahà  pratisàra  vidya  dhàranïi  lại ghi là: Tùy Cầu Tức Đắc Đại Tự Tại Đà La Ni, Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng Đà La Ni, Tùy Cầu Tức Đắc Chân Ngôn. Lược xưng là Tùy Cầu Đà La Ni. Đây là Chân Ngôn hay tiêu diệt tất cả tội chướng, phá trừ nẻo ác, tùy sự mong cầu liền được phước đức.
         Câu chữ của Chân Ngôn này thì các Kinh ghi không giống nhau. Tuy vậy, nội dung của Chân Ngôn thì không khác nhau bao nhiêu. Ví dụ bản của Ngài Đại Quảng Trí Bất Không ghi là Mama Sarvasatvànàm Ca (Tôi và tất cả chúng hữu tình), còn   bản của Ngài Bảo Tư Duy ghi là Mama Sya (Nhóm chúng tôi) hoặc một vài câu có ghi trong bản này, nhưng không được ghi trong bản kia. Tựu chung, nội dung của Bài Đại Chân Ngôn có thể chia làm ba đoạn.
     * Đoạn đầu: Biểu thị cho lý Quy mạng chư Phật, Bồ Tát và Tam Bảo.
     * Đoạn giữa: Diễn nói là Bồ Tát Tùy Cầu bạt tế hết thảy tội chướng, sự sợ hãi, bệnh tật của tất cả chúng sanh, khiến cho thân tâm an vui, viên mãn sự mong cầu.
     * Đoạn cuối: Diễn nói là người thọ trì Đà La Ni sẽ được các hàng Trời, Rồng, Quỷ Thần… thủ hộ và được sự hộ niệm của tất cả Như Lai.
            2. Ấn Phủ Việt: Tay trái úp, tay phải ngửa sao cho dính lưng nhau. 10 ngón tay cùng trợ nhau móc lưng như hình cái búa. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Tâm Chân Ngôn.
3. Ấn Sách: Hai tay nội tương xoa, dựng 2 ngón giữa rồi hơi co lại sao cho phần trên trụ dính nhau giống như hình sợi dây, liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Tâm Ấn Chân Ngôn.
4. Ấn Kiếm: Chắp 2 tay, co lóng giữa của 2 ngón giữa khiến cho đầu ngón cùng trụ nhau liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Kim Cang Bị Giáp Chân Ngôn.
5. Ấn Luân: Hai tay Ngoại tương xoa, hợp đứng 2 ngón vô danh, giao cứng 2 ngón út, liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Quán Đảnh Chân Ngôn.
6. Ấn Tam Cổ Xoa: Hai ngón cái vịn trên móng 2 ngón út. Các ngón còn lại hợp cứng như hình Tam Kích Xoa, liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Kết Giới Chân Ngôn.
7. Ấn Như Ý Bảo: Hai tay Ngoại tương xoa, 2 ngón trỏ trụ như hình Báu, kèm cứng 2 ngón cái liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Tâm Trung Tâm Chân Ngôn.
8. Ấn Đại Minh Tổng Trì: Tay trái ngửa ngay trái tim, đem tay phải úp trên tay trái, cùng cài nhau khiến cho bằng phẳng, liền thành. Chân Ngôn là Nhất Thiết Như Lai Tùy Tâm Chân Ngôn. 
         Tám Ấn Chân Ngôn này biểu thị cho Lý Trí. Riêng Ấn thứ tám (Ấn Phạn Khiếp) dung hòa 5 Trí của 2 Bộ. Tất cả chư Phật Pháp Tạng dùng 5 Trí làm gốc. Năm Trí của 2 Bộ hòa hợp biểu thị cho một Đại Pháp Giới, trong Cung Pháp Giới này dung nhiếp 8 vạn Pháp Tạng. Đại Sư nói theo thứ tự là Nghịch chuyển Tiểu Thừa, Thuận chuyển Đại Thừa. Trong rương Kinh Phạn dung nạp nghĩa thú rõ ràng của tất cả Giáo Pháp về Đại Tiểu Thừa, cho nên Ấn và Chân Ngôn này có công năng thù thắng. Do vậy, Ấn và Chân Ngôn này thường được dùng để tác Bổn Tôn gia trì. Ngoài ra, tụng Tùy Tâm Chân Ngôn có thể làm ngưng các tai nạn, diệt tội chướng và tất cả nguyện cầu đều được đầy đủ. Riêng Tùy Tâm Chân Ngôn thì Bản của Ngài Bảo Tư Duy có ghi thêm câu Kuru Cale (Làm cho lay động) vào cuối Bài Chú mà các Bản khác không có.
         Thông thường, người tu Mật Pháp này hay trì tụng Lược Pháp của 8 Ấn - Chân Ngôn là:
  1. Om- Vajràya Svàha (Ngũ Cổ)
  2. Om- Pra'sù Svàha (Việt Phủ)
  3. Om- Pà'sa Svàha (Quyến sách)
  4. Om- Khànga Svàha (Bảo Kiếm)
  5. Om- Cakra Svàha (Luân)
  6. Om- Tri'sùla Svàha (Tam Cổ Xoa)
  7. Om- Cintamani Svàha (Bảo)
  8. Om- mahà Vidya Dhàrani Svàha (Phạn Khiếp).
         Tám Đạo Chú này đều được 99 ức trăm ngàn na do tha hằng hà sa đẳng chư Phật cùng nhau diễn nói, cùng nhau khen ngợi, cùng nhau tùy hỷ, nên 8 Chân Ngôn này có thế lực lớn, hay hàng phục Ma chúng. Nếu viết chép, đeo giữ, tâm thường ghi nhớ 8 Đạo Chú này, thì tất cả mộng ác, tướng ác, việc không kiết tường chẳng phạm vào thân.
         Tóm lại điều cốt yếu để tu trì Pháp này là: Lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, viết chép, lưu truyền Đại Đà La Ni Đại Tùy Cầu thì sẽ được mọi loại Công đức như : Lửa chẳng thể đốt, nước chẳng thể cuốn chìm, không bị trúng độc, giáng phục địch quân, phá ngục Vô Gián, trừ nạn Rồng Cá, sanh sản an vui, miễn trừ nạn vua quan…
         Về các Bản Thư liên quan đến Pháp Đại Tùy Cầu thì có rất nhiều (hơn 21 loại), nhưng chúng tôi chỉ có thể biên dịch một số Bản được ghi chép trong Mật Tạng Quyển 3, Đồ Tượng Quyển 3, 5, 6, 9 nên vẫn chưa được hoàn chỉnh. Riêng Bài Đại Chân Ngôn thì chúng tôi xin mạo muội phục hồi và ghi chép lại nghĩa thú của từng câu Chân Ngôn. Điều không thể tránh khỏi là còn sự sai sót. Do vậy chúng tôi chân thành xin các Bậc Tiền Bối, các Bậc Long Tượng trong Mật Giáo hãy rũ lòng Từ Bi chỉ bảo cho chúng tôi sửa chửa kịp thời những lỗi lầm của mình ngỏ hầu giúp ích cho những người cầu học Chánh Pháp Giải Thoát.
                                               
Cuối mùa Thu năm Mậu Dần
Huyền Thanh kính ghi


 

MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 26

KINH PHỔ BIẾN QUANG MINH THANH TỊNH  XÍ THẠNH NHƯ Ý BẢO ẤN TÂM VÔ NĂNG THẮNG ĐẠI MINH VƯƠNG  ĐẠI TÙY CẦU ĐÀ LA NI

Mật Tạng Bộ 3  No.1153 (Tr.616 - Tr.632)

QUYỂN THƯỢNG

Chùa Đại Hưng Thiện, Tam Tạng Sa Môn Đại Quảng Trí
Bất Không dịch Phạn ra Hán văn.
          Dịch Hán ra Việt văn : Huyền Thanh

TỰA

PHẨM THỨ NHẤT

         Như vậy tôi nghe : Một thời Đức Bạc Già Phạm ngự tại Lầu gác trên đỉnh Đại Kim Cang Tu Di Lô, an trụ trong Đại Kim Cang Tam Ma Địa, dùng cây Kiếp Thọ Đại Kim Cang trang nghiêm, nơi hoa sen báu trong cái ao Đại Kim Cang, chiếu soi cát Kim Cang mà rải bày trên mặt đất. Ở cung điện Đế Thích trong Đạo Trường Kim Cang của Đại Kim Cang gia trì, dùng câu đê na dữu đa trăm ngàn tòa Đại Kim Cương Sư Tử trang nghiêm, nói pháp Thần Thông Xứ là nơi gia trì thần lực của tất cả Như Lai, nhập vào Nhất Thiết Pháp Bình Đẳng Xuất Sinh Tát Bà Nhã Trí cùng với 84 câu đê na dữu đa Bồ Tát Chúng đến dự. Các Vị này đều là Bậc Nhất Sinh Bổ Xứ, được Bất thoái chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đều có thế lực lớn, thảy đều thị hiện Đại Kim Cương Giải Thoát Tam Ma Địa, thần thông của cõi Phật, trong khoảng sát na tùy tiện vào Tâm hạnh của tất cả Hữu tình, thành tựu mọi thứ đẹp đẽ màu nhiệm rộng lớn thâm sâu, khéo nói các Pháp, biện tài vô ngại, được đại thần thông đều hay cúng dường vô lượng Như Lai trong thế giới của Phật, thần thông tự tại của Đại cúng dường vân hải giải thoát Tam Ma Địa, Bất Cộng Giác Phần Đạo Chi, tất cả Địa Ba La Mật, thiện xảo tứ nhiếp, Từ Bi Hỷ Xả lực viễn ly, cùng gom chứa trong Tâm thanh tĩnh. Các Vị ấy tên là : Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tạng, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Nhãn, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Thân, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tuệ, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Thủ, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tương Kích, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Na La Diên, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Du Hý, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tích, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Kế, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Diệu, Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Tràng... Các Bậc Thượng Thủ như vậy cùng với chúng Bồ Tát Ma Ha Tát đền dự hội.
         Lại có Chúng Đại Thanh Văn đều là Bậc Đại A La Hán đã đoạn trừ Hữu Kết, chấm dứt tất cả các Lậu, được Thiện Giải Thoát của Tâm Thiện Chính Tri, đều hay thị hiện Du Hý Thần Cảnh Thông của sức thần thông chẳng thể luận bàn, đều được thế lực lớn, không chấp trước vào sự thấy (Kiến vô trước) xa lìa tất cả cấu nhiễm, thiêu đốt hạt giống Tập Khí. Các Vị ấy tên là : Cụ Thọ Ca Diệp Ba, Cụ Thọ Đại Ca Diệp Ba, Cụ Thọ Ưu Lâu Tần Loa Ca Diệp Ba.. .Các Bậc Thượng Thủ như vậy cùng với chúng Đại Thanh Văn đến dư hội.
         Lại có Đại Tự Tại Thiên Tử là Bậc Thượng Thủ cùng với vô lượng vô biên bất khả thuyết a tăng kỳ chúng Thiên Tử Tịnh Cư đến dự. Lại có Sa Ha Thế Giới Chủ Đại Phạm Thiên Vương là Bậc Thượng Thủ cùng với Thiên Tử Phạm Chúng đến dự .          Lại có Thiên Tử Tô Dạ Ma, Thiên Tử Hóa Lạc, Thiên Tử Tha Hóa Tự Tại, Thiên Đế Thích cùng với các Thiên Tử quyến thuộc đến dự.
         Lại có A Tô La Vương Tỳ Ma Chất Đa La, A Tô La Vương Mạt La, A Tô La Vương Linh Hoan Hỷ, A Tô La Vương Chiếu Diệu, A Tô La Vương La Hầu. Các A Tô La Vương Thượng thủ như vậy cùng với vô lượng vô biên A Tô La Vương quyến thuộc đến dự.
         Lại có Long Vương Sa Già La, Long Vương Đức Xoa Ca, Long Vương Tô Phộc Chỉ, Long Vương Thương Khư Ba La, Long Vương Yết Cú Tra Ca, Long Vương Liên Hoa, Long Vương Đại Liên Hoa. Các Long Vương Thượng thủ như vậy cùng với vô lượng vô biên a câu đê Long Vương chúng đến dự.
         Lại có Thọ Khẩn Na La Vương cùng với vô lượng vô biên Khẩn Na La Vương quyến thuộc đến dự.
         Lại có Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu Trì Minh Tiên Vương cùng với vô lượng vô biên Trì Minh Tiên Vương quyến thuộc đến dự.
         Lại có Ngũ Kế Càn Đạt Bà Vương cùng với vô lượng vô biên Càn Đạt Bà Vương quyến thuộc đến dự.
         Lại có Kim Ngân Nghiệt Lộ Trà Vương cùng với vô lượng vô biên Nghiệt Lộ Trà Vương quyến thuộc đến dự.
         Lại có Dược Xoa Vương Đa Văn, Dược Xoa Vương Bảo Hiền, Dược Xoa Vương Mãn Hiền, Dược Xoa Vương Bán Chi Ca cùng với vô lượng vô biên Dược Xoa Vương quyến thuộc đến dự.
         Lại có Ha Lợi Đế Mẫu cùng với 500 người con là quyến thuộc đến dự.
         Lại có 7 Vị Hộ Thế  Mẫu Thiên , 7 vị Đại La Sát Mẫu, 7 vị Tiên Thiên dạo chơi trên hư không, 9 vị Chấp Diệu Thiên, Địa Thiên Phương Ngung, Thiên Nữ Biện Tài cùng với quyến thuộc đến dự.
         Lại có loài gây chướng, Tỳ Na Dạ Ca, Tất Lệ Đa, Bộ Đa. Tất cả đều là Bậc có Đại uy đức cùng với quyến thuộc đến dự.
         Lại có tất cả Sơn Vương, tất cả Hải Vương, Hộ Thế Vương, Thủy Thiên, Thiên Vương Trì Quốc, Thiên Vương Tăng Trưởng, Thiên Vương Aùc Mục, La Sát Chủ Trì Bổng, 7 vị Phong Thiên, Y Xá Na Thiên với các bà vợ cùng với 1000 câu đê na dữu đa quyến thuộc đến dự .
         Lại có Thiên Na La Diên cùng với quyến thuộc đến dự.
          Lại có Nại Đa Ca, Na Ma Ca, Lô Hạ Ca, Đại Già Na Bát Đề, Di Cù La Ca. Tỳ Na Dạ Ca Vương như vậy cùng với vô lượng vô biên Tỳ Na Dạ Ca quyến thuộc đến dự .
          Lại có 60 vị Du Hành chư Thành Aáp Vương với quyến thuộc đến dự. Lại có bốn chị em Thần Nữ với các người anh là quyến thuộc đến dự.
          Lại có Kim Cương Thương Yết La Nữ cùng với 64 vị Kim Cương Nữ là quyến thuộc đến dự. Lại có Kim Cương Quân Đồng Tử, Tô Ma Hô Đồng Tử, Đỉnh Hạnh Đồng Tử cùng với vô lượng vô biên Kim Cương Tộc là quyến thuộc đến dự.
          Lại có hàng tin tưởng trong sạch nơi Phật Pháp Tăng là Trời, Rồng, Dược Xoa, Càn Đạt Bà, A Tô La, Nghiệt Lộ Trà, Khẩn Na La, Ma Hộ La Già, Bộ Đa, Tất Xá Già, A Bát Sa Ma La, Ổn Ma Na, Sa Đình Sa, Tứ Lý Ca, Ô Tát Đa La Ca, Thiên Tử Nhật Nguyệt, Thiên Thần Triêu, Thiên Nhật Ngọ, Thiên Hoàng Hôn, Thiên Trung Dạ, Thiên Nhất Thiết Thời cùng với vô lượng vô biên a tăng kỳ quyến thuộc đến dự.
         Bấy giờ Đức Thế Tôn khéo chuyển bánh xe Pháp, làm xong việc Phật, viên mãn Phước Đức Trí Tuệ cứu cánh, khéo nhiếp thọ Nhất Thiết Trí Đại Bồ Đề, đắc được Ba La Mật Xí Thịnh Địa, dùng 32 tướng trang nghiêm Pháp Thân, dùng 84 vẻ đẹp trang nghiêm tất cả chi phần, Nhất thiết hữu tình vô sở quán đỉnh Tướng vượt hơn hẳn tất cả Ma La, thông đạt Nhất Thiết Trí Trí, đầy đủ năm loại mắt, thành tựu tất cả Tướng, thành tựu Nhất Thiết Trí Trí, thành tựu tất cả Phật Pháp, đập nát dị luận của tất cả Ma, hiển cao danh xưng Đại Hùng Mãnh Sư Tử Hống, phá hoại vô minh hắc ám, dùng sự gom chứa về : Thí, Giới, Nhẫn, Cần Dũng, Tĩnh Lự, Bát Nhã, Phương Tiện, Nguyện, Lực, Trí Ba La Mật, khổ hạnh khó hành trong vô lượng vô biên a tăng kỳ trăm ngàn câu đê na dữu đa kiếp, chuyển được 32 tướng Đại Nhân, 84 vẻ đẹp trang nghiêm. Thân đó ngồi trên Tòa Đại Bảo Kim Cương Liên Hoa Tạng Sư Tử. Tòa ngồi đó được trang nghiêm bằng vô lượng viên ngọc báu, võng lưới báu khi gió nhẹ thổi qua đều phát ra âm thanh vi diệu. Dùng vô lượng Kim Cương Giới an trụ Thần Túc. Dùng vô lượng báu Kim Cương trang nghiêm cho viên ngọc đỏ do con cá Ma Kiệt phun ra và dùng miệng ngậm lại. Dùng vô lượng báu trang sức cánh hoa sen. Dùng Hổ phách, đại Hổ phách, Đế Thanh, đại Đế Thanh, Bổ Sa La Già trang nghiêm cái võng, ánh sáng rộng lớn đoan nghiêm. Dùng vô lượng báu Kim Cương trang nghiêm cái cán của cây phan cây lọng. Dùng bóng mát của vô lượng câu đê na dữu đa trăm ngàn cây Kiếp Thọ trang nghiêm Tòa ngồi rộng lớn như Tu Di ấy, giống như ngọn núi vàng tỏa ánh hào quang rực rỡ sáng chói vượt hẳn 1000 mặt trời. Mặt đất của nơi ấy tròn đầy giống như mặt trăng thanh tĩnh khiến cho các Hữu tình vui thích ngắm nhìn như Pháp của Như Lai, như hoa hé nở của cây Đại Kiếp Thọ ấy. Pháp màu nhiệm đã nói : Ban đầu, khoảng giữa, chặng cuối đều tốt lành. Lời nói về nghĩa thâm sâu mau chóng của Pháp ấy rất khéo léo, thanh tĩnh, tinh khiết, thuần nhất không pha tạp.
         Khi ấy từ Đỉnh đầu và Hào Tướng của Đức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn. Aùnh sáng này chiếu khắp 3000 Đại Thiên Thế Giới cho đến như hằng hà sa số Thế Giới của Phật. Hết thảy Như Lai ở Thế Giới đó ngồi trên Tòa Sư Tử được trang nghiêm bằng vô lượng báu, ngự bên trong lầu gác đại trang nghiêm, nói Pháp cùng với tất cả Bồ Tát, Đại Thanh Văn, Tỳ Khưu, Tỳ Khưu ni, Tịnh Tín Nam, Tịnh Tín Nữ, Trời, Rồng, Dược Xoa, Càn Đạt Bà, A Tố La, Nghiệt Lộ Trà, Khẩn Na La, Ma Hộ La Già thảy đều được chiếu diệu mà hiển hiện rõ ràng.
         Bấy giờ Đức Thế Tôn vì khắp tất cả mà nói Già Đà là :
     Nay Ta nói Tùy Cầu           Thương xót các Hữu tình
     Đại Đà La Ni này                Hay đập kẻ khó phục
     Các tội nặng cực ác             Nếu có duyên nghe qua
     Đà La Ni Tùy Cầu               Tất cả tội tiêu diệt
     An vui các Hữu tình             Giải thoát tất cả bệnh
     Đại Bi vì chúng sinh             Nên Đức Thế Tôn nói
     Làm cho được giải thoát      Mau lìa các nẻo ác
     Nếu vào cung Tu La            Cung Dược Xoa, La Sát
     Bộ Đa, Rồng, Quỷ Thần      Các cung điện như vậy
     Tùy ý vào được cả                Đều dùng Đại Minh này
     Mà làm nơi gia hộ                 Nơi chiến đấu hiểm nguy
     Chẳng bị oán trớ hại             Với các hàng Quỷ Mỵ
     Do xưng Đà La Ni                 Các Mỵ đều hoại diệt
     Sa Kiến, Ổn Mạt Na             Tất Xá, Noa Cát Nễ
     Mãnh ác đoạt tinh khí           Loại hữu tình ác độc
     Hết thảy đều tiêu diệt           Do uy đức Tùy Cầu
     Kẻ địch đều hoại diệt            Hết thảy Pháp Chú Trớ
     Yểm đảo đều vô hiệu            Định nghiệp chẳng thọ báo
     Chẳng bị trúng trùng độc       Nước, lửa với đao, gậy
     Sấm sét, sương, mưa đá         Gió bão, mưa bạo ác
     Các nạn đều được thoát         Oán địch đều giáng phục
     Nếu người trì Minh này          Hoặc đeo cổ, đeo tay
     Mọi nguyện cầu đều thành    Tất cả điều mong ước
     Thảy đều được như ý             Thiên Vương đều gia hộ
     Với các Đại Long Vương       Bồ Tát, Đại Cần Dũng
     Duyên Giác và Thanh Văn    Tất cả các Như Lai
     Minh Phi, Đại Uy Đức            Thảy đều cùng ủng hộ
     Người thọ trì Tùy Cầu            Kim Cương Bí Mật Chủ
     Bốn Thiên Vương Hộ Thế     Đối với người Trì Minh
     Ngày đêm thường gia hộ        Đế Thích, Chúng Đao Lợi
     Phạm Vương, Tỳ Lữu Thiên  Với Ma Hê Thủ La
     Chúng sinh Câu Ma La          Đại Hắc, Hỷ Tự Tại
     Tất cả chúng Thiên Mẫu        Với các Ma Chúng khác
     Khổ Hạnh Uy Đức Tiên         Cùng với Mật Ngữ Thiên
     Thảy đều đến ủng hộ             Người trì Tùy Cầu này
     Minh Phi, Đại Bi Tôn             Dũng mãnh đủ thần lực
     Ma Ma, Tỳ Câu Đê                Đa La, Ương Câu Thi
     Cùng với Kim Cương Tỏa      Bạch Y, Đại Bạch Y
     Thánh Ma Ha Ca Ly               Sứ Giả, Kim Cương Sứ
     Diệu Sách, Kim Cương Sách  Chấp Luân Đại Lực Giả
     Kim Cương Man, Đại Minh     Cam Lộ Quân Trà Lợi
     Vô Năng Thắng Minh Phi       Hắc Nhĩ, Cát Tường Thiên
     Đại Phước Uy Đức Tôn           Liên Hoa Quân Trà Lợi
     Hoa Xỉ với Châu Kế                Kim Man Chất Nghiệt La
     Đại Uy Đức Cát Tường           Với Điển Trang Nghiêm Thiên
     Nhất Kế Đại La Sát                Với Phật Địa Hộ Tôn
     Ca Ba Lợi Minh Nữ                 Lăng Già Tự Tại Tôn
     Với nhiều loại chúng khác      Hết thảy đều ủng hộ
     Do Đại Minh tại tay                 Ha Lợi Đế và con
     Bán Chi Ca Đại Tướng            Thương Diệp Ni, Tích Xỉ
     Cát Tường và Biện Tài            Do trì Mật Ngôn này
     Ngày đêm thường tùy toại       Nếu có các người nữ
     Trì  Đà La Ni này                     Kẻ ấy đều thành tựu
     Trai gái ở trong thai                  Thai an ổn tăng trưởng
     Sinh nở đều an vui                    Tất cả bệnh đều trừ
     Các tội đều tiêu diệt                 Phước lực thường đầy đủ
     Lúa gạo với tài bảo                   Thảy đều được tăng trưởng
     Lời nói khiến người nghe          Nơi nơi đều cung kính
     Nam tử với nữ nhân                   Thanh tịnh hay thọ trì
     Thường ôm Tâm Từ Bi             Cứu giúp các Hữu tình
     Nguyện họ được an vui             Khiến xa lìa bệnh tật
     Quốc Vương và Hậu Cung        Đều sinh tâm cung kính
     Cát tường thường xí thịnh          Các phước đều tăng trưởng
     Tất cả Pháp Chân Ngôn            Thảy đều được thành tựu
     Thành nhập tất cả Đàn              Được thành Tam Muội Gia
     Như Lai thành thật nói               Chẳng hay gặp mộng ác
     Đều diệt trừ các tội                    Phiền não và oán địch
     Diệt tai họa Chấp Diệu             Đại Trí Tự Tại nói
     Hay mãn nguyện ước khác        Vì thế nay Ta nói
     Đại Chúng đều lắng nghe

         - Nẳng mô tát phạ đát tha nga đa nam (NAMO  SARVA  TATHÀGATANÀM) Nẵng mô nẵng mạc tát phạ một đà mạo địa tát đa-phạ- Một đà, đạt ma, tăng khế tỳ dược (NAMO  NAMAH  SARVA  BUDDHA  BODHISATVA- BUDDHA, DHARMA, SAMGHE  BHYAH) .
AÙn (OM) Vĩ bổ la nghiệt beä (VIPULA  GARBHE) Vĩ bổ la, vĩ
ma lê, nhạ dã nghiệt bệ (VIPULA VIMALE JAYA  GARBHE) Phạ nhật-la nhập-phạ la nghiệt bệ (VAJRA  JVALA  GARBHE) Nga để nga hạ nãnh (GATI  GAHANE) Nga nga nẵng vĩ thú đà ninh (GAGANA  VI’SODHANE) Tát phạ bá bả vĩ thú đà ninh (SARVA  PÀPA  VI’SODHANE).
         Án (OM) - Ngu noa phạ để (GUNA  VATI) Nga nga lị ni (GAGARINI) Nghĩ lị, nghị lị (GIRI  GIRI) Nga ma lị, nga ma lị(GAMÀRI  GAMÀRI) Ngược hạ, ngược haï (GAHA  GAHA) Nghiệt nga lị, nghiệt nga lị (GARGÀRI  GARGÀRI) Nga nga lị, nga nga lị (GAGARI  GAGARI) Nghiêm bà lị, nghiêm bà lị (GAMBHARI  GAMBHARI)Nga để, nga để (GATI  GATI) Nga ma nãnh, nga lệ (GAMANI  GARE) Ngu lỗ, ngu lỗ, ngu lỗ ni (GÙRU  GÙRU  GÙRUNE)Tả lệ, a tã lệ, mẫu tả lệ (CALE  ACALE  MUCALE) Nhạ duệ, vĩ nhạ duệ (JAYA  VIJAYA) Tát phạ bà dã, vĩ nga đế (SARVA  PÀPA  VIGATE) Nghiệt bà tam bà la ni(GARBHA  SAMBHARANI) Tất lị, tất lị (SIRI  SIRI) Nhĩ lị, nhĩ lị (MIRI  MIRI) Chi lị, chi lị (GHIRI  GHIRI) Tam mãn đá ca la-sái ni (SAMANTA  AKARSANI) Tát phạ thiết đốt-lỗ , bát-la ma tha nãnh (SARVA  ‘SATRÙ  PRAMATHANI) La khất-sái, la khất-sái (RAKSA  RAKSA) Ma ma (Tôi, họ tên....) (MAMA .....) Tát phạ tát đa-phạ nan tả (SARVA  SATVANÀMCA) Vĩ lị, vĩ lị(VIRI  VIRI) Vĩ nga đá (VIGATA) Phạ la noa bà dã nẵng xả nãnh (AVARANI  BHAYA  NÀ’SANI) Tô lị, tô lị (SURI  SURI) Tức lị(CILI) Kiếm ma lê, vĩ ma lê, nhạ duệ(KAMALE  VIMALE  JAYE) Nhạ dã phạ hề(JAYA  VAHE) Nhạ dã phạ để, Bà nga phạ để (JAYA  VATI   BHAGAVATI) La đát-nẵng ma củ tra, ma la đà lị (RATNA  MAKUTA  DHÀRI) Ma hộ, vĩ vĩ đà , vĩ tức đát-la, phệ sái, lỗ bạt, đà lị ni (BAHU  VIVIDHA  VICITRA  VESA  RÙPA  DHÀRANI) Bà nga phạ để (BHAGAVATI) Ma hạ vĩ nễ-dã nê vĩ (MAHÀ  VIDYA  DEVI) La khất-sái, la khất-sái (RAKSA  RAKSA) Ma ma (Tôi, tên là.....) (MAMA.....)
Tát phạ tát đa-phạ nan taû (SARVA  SATVANÀMCA) Tam mãn đá tát phạ đát-la (SAMANTA  SARVATRÀ) Tát phạ bá bả, vĩ thú đà nãnh (SARVA  PÀPA  VI’SODHANE) Hộ lỗ, hộ lỗ (HULU  HULU 
Nhược khất-sát đát-la, ma la, đà lị ni(NAKSATRA MÀLÀ DHÀRANI) La khất-sái hàm (RAKSA  MÀM) Ma ma (Tôi, tên là....) (MAMA......) A nẵng tha tả (ANÀTHA  SYA) Đát-la noa bả la gia noa tả (ATRÀNA   PARÀYANA   SYA) Bả lị mô tả, dã minh(PARIMOCA YA  ME) Tát phạ nậu khế tỳ dược (SARVA  DUHKHE  BHYAH) Chiến ni, chiến ni, tán nị nãnh (CANDI CANDI  CANDINI) Phệ nga phạ để (VEGA  VATI)Tát phạ nột sắt-tra, nãnh phạ la ni(SARVA   DUSTA  NIVARANI) Thiết đốt-lỗ bạc khất-xoa (‘SATRÙ  PAKSA) Bát-la mạt tha nãnh (PRAMATHANI) Vĩ nhạ dã phạ tứ nãnh (VIJAYA  VÀHINI) Hộ lỗ, hộ loã (HURU  HURU) Mẫu lỗ, mẫu lỗ (MURU  MURU) Tổ lỗ, tổ lỗ (CURU  CURU) A dục, bá la nãnh, tô la (AYUH PÀLANI SURA) Phạ la mạt tha nãnh  (VARA  MATHANI)Tát phạ nê phạ đá (SARVA  DEVATA) Bố tỉ đế (PÙJITE) Địa lị, địa lị (DHIRI  DHIRI)Tam mãn đá phạ lộ chỉ đế bát la bệ(SAMANTA  AVALOKITE  PRABHE) Bát-la bệ, tô bát-la bà (PRABHE  SUPRABHE) Vĩ truật đệ (VI’SUDDHE) Tát phạ bá bả, vĩ thú đà ninh (SARVA  PÀPA VI’SODHANE ) Đạt la, đạt la, đạt la ni (DHARA  DHARA  DHARANI) La la đạt lệ (RARA DHARE)
Tô mẫu, tô mẫu (SUMU  SUMU) Lỗ lỗ tả lê (RURU  CALE) Tả la gia, nô sắt-lãng (CALÀYA  DUSTA) Bố la dã mính, a thiêm, thất-lị (PÙRAYA ME À’SAM ‘SRÌ) Phạ bổ đà nam (VAPUDHANAM) Nhạ dã, kiếm ma lê (JAYA  KAMALE) Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI  KSINI) Tát la ni, tát la năng củ thế (VARADE VARADA  ANÕKU’SE).
         Án (OM) - Bát nột-ma vĩ truật đệ (PADMA VI’SUDDHE) Thú đà dã, thú đà dã (‘SODHAYA ‘SODHAYA) Thuấn đệ(‘SUDDHE) Bạt la, bạt la (BHARA  BHARA) Tỷ lị, tỷ lị (BHIRI  BHIRI) Bộ lỗ, bộ lỗ (BHURU  BHURU) Mộng nga la, vĩ thuấn đệ (MAMGALA VI’SUDDHE) Bạt vĩ đát-la, mục khế (PAVITRA  MUKHI) Khát nghĩ ni, khát nghĩ ni (KHARGANI  KHARGANI) Khư la, khư la (KHARA  KHARA) Nhập-phộc lý đa thủy lệ (JVALITA  ‘SIRE) Tam mãn đa bát-la sa lị đá, phộc bà tất đa, truật đệ (SAMANTA PRASARITA VABHASITA ‘SUDDHE) Nhập-phộc la, nhập-phộc la(JVALA  JVALA) Tát phộc nê phộc nga noa, tam ma đa ca la-sái ni (SARVA  DEVAGANA  SAMA  AKARSANI) Tát để-dã  phộc đế (SATYA  VATI) La hộ, la hộ (LAHU  LAHU) Hộ nộ, hộ nộ (HUNU  HUNU) Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI  KSINI) Tát phộc nghĩ-la hạ bạc khất-sái ni (SARVA  GRAHA  BHAKSANI
Vĩnh nga lý, vĩnh nga lý (PIMÏGALI  PIMÏGALI) Tổ mẫu, tổ mẫu (CUMU  CUMU)Tô mẫu, tô mẫu (SUMU  SUMU) Tổ mẫu tả lệ (CUVI  CARE) Đa la, đa la (TARA  TARA) Nẵng nga vĩ lộ chỉ nãnh đa la dã đổ hàm (NÀGA  VILOKITE  TÀRÀYA  TUMAM) Bà nga phộc để (BHAGAVATI) A sắt-tra ma hạ bà duệ tỳ dược (ASTA  MAHÀ  BHAYE  BHYAH) Tam muộn nại-la (SAMUDRA) Sa nga la (SÀGARA) Bát lị-dần đảm, bá đá la, nga nga nẵng, đát lãm (PRATYANTÀM PÀTÀLA GAGANA TALAM) Tát phộc đát la (SARVATRÀ) Tam mãn đế nẵng (SAMANTENA) Nễ xả mãn đệ nẵng (DI’SA  BANDHENA) Phộc nhật-la  bát-la ca la (VAJRA  PRÀKÀRA) Phộc nhật-la bá xả mãn đà mật nẵng (VAJRA  PA’SA  BANDHANE) Phộc nhật-la,nhập phộc-la, vĩ truật đệ (VAJRA JVALA  VI’SUDDHE) Bộ lị, bộ lị (BHURI  BHURI) Nghiệt bà phộc để (GARBHA VATI) Nghiệt bà vĩ thú đà nãnh (GARBHA  VI’SODHANE) Câu khất-sử tam bố la ni (KUKSI SAPÙRANI) Nhập phộc-la, nhập phộc-la (JVALA  JVALA) Tả la, tả la (CALA  CALA) Nhập phộc-lý nãnh (JVALANI) Bát-la vạt sát đổ, nê phộc (PRAVASATU  DEVA) Tam mãn đế nãnh (SAMANTENA) Nễ miễu ná kế nãnh (DIDHYODAKENA) A mật-lật đa phộc la-sái ni (AMRTA VARSANI) Nê phộc đá phộc đá la ni (DEVA  DEVA  DHÀRANI) A tỵ tru giả mính (ABHISIMCA TUME) Tô nga đa (SUGATA) Phộc tả nẵng mật-lật đa (VACANA  AMRTA) Phộc la phộc bổ sái (VARA VAPUSPE) La khất-sái, la khất-sái (RAKSA  RAKSA) Ma ma (Tôi tên là...) (MAMA...) Tát phộc tát đa-phộc nan tả (SARVA SATVÀNÀMCA) Tát phộc đát-la (SARVATRÀ) Tát phộc ná (SARVADÀ) Tát phộc bà duệ tỳ-dược (SARVA  BHAYE  BHYAH) Tát mạo bát nại-la phệ tỳ-dược (SARVOPADRAVE  BHYAH) Tát mạo bả tăng nghê tỳ-dược (SARVOPASAGRE  BHYH) Tát phộc nột sắt-tra bà dã tỵ đát tả (SARVA  DUSTA  BHAYA  BHÌTA  SYA) Tát phộc ca li, ca la hạ, vĩ nghiệt la hạ (SARVA KÀLI KALAHÀ VIGRAHA) Vĩ phộc ná (VIVÀDA) Nậu tát-phộc bả-nan nột nãnh nhĩ đá (DUHSVAPNÀM  DURNI  MINTA) Mộng nga la (AMAMGALLYA) Bá bả (PÀPA) Vĩ nẵng xả nãnh (VINA’SANI) Tát phộc dược khất-xoa (SARVA  YAKSA)La khất-sái sa (RAKSASA) Nẵng nga (NÀGA) Nãnh phộc la ni (NIVARANI) Tát la ni sa lệ (SARANI  SARE) Ma la , ma la, ma la phộc để (BALA  BALA - BALA  VATI) Nhạ dã, nhạ dã (JAYA  JAYA) Nhạ dã đổ hàm (JAYA  YUMAM) Tát phộc tát-la (SARVATRÀ) Tát phộc la lam (SARVA  KÀRAM) Tất đệ đổ mính (SIDDHE  TUME) Ế hàm, ma hạ vĩ niệm, sa đà dã (IMAM MAHÀ VIDYA  SÀDHAYA) Sa đà dã tát phộc mạn noa la (SADHAYA  SARVA  MANDALA) Sa đà nãnh già đa dã (SÀDHANI  GHÀTAYA) Tát phộc vĩ cận-nãnh (SARVA  VIGHNAM) Nhạ dã, nhạ dã (JAYA  JAYA)Tất đệ, tất đệ (SIDDHE  SIDDHE) Tô tất đệ(SUSIDDHE) Tất địa-dã, tất địa-dã (SIDDHYA  SIDDHYA) Một địa-dã, một địa-dã (BUDDHYA  BUDDHYA) Bố la dã, bố la dã (PÙRAYA  PÙRAYA) Bố la ni, bố lani (PÙRANI  PÙRANI) Bố la dã, mính, a thiêm (PÙRAYA  ME  À’SAM) Tát phộc vĩ nễ dã (SARVA  VIDYA) Địa nga đa(ADHIGATA) Một lật-đế (MÙRTTE) Nhạ dụ đa lị  (JAYOTTARI) Nhạ dạ phộc để (JAYA  VATI) Để sắt-xá, để sắt-xá (TISTA  TISTA) Tam ma dã ma nỗ bá la dã (SAMAYAM  ANUPÀLAYA) Đát tha nghiệt đa, ngật-lị nãi dã (TATHÀGATA  HRDAYA) Thuấn đệ(‘SUDDHE) Nhĩ-dã phộc lộ ca dã hàm (VYAVALOKAYA   MAM) A sắt-tra tỵ ma hạ ná lỗ noa bà (ASTA  MAHÀ  DÀRUNA  BHAYE) Tát la, tát la (SARA  SARA) Bát-la sa la, bát-la sa la (PRASARA  PRASARA) Tát phộc phộc la noa tỵ  thú đà nãnh (SARVA  AVARANA  VI’SODHANE) Tam mãn đá ca la man noa la vĩ thuấn đệ (SAMANTA KÀRA MANDALA  VI’SUDDHE) Vĩ nga đế, vĩ nga đế, vĩ nga đa, ma la vĩ thú đà nãnh (VIGATE  VIGATE  VIGATA  MALA  VI’SODHANE) Khất-sử ni, khất-sử ni (KSINI  KSINI) Tát phộc bá bả vĩ thuấn đệ (SARVA  PÀPA  VI’SUDDHE) Ma  la vĩ nghiệt đế (MARA  VIGATE)
Đế nhạ phộc để (TEJA  VATI) Phộc nhật-la phộc để (VAJRA  VATI) Tát-lạt lộ chỉ-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (TRAILOKYA  ADHISTITE  SVÀHÀ) Tát phộc đát tha, một đà, vĩ sắt cật-đế, sa-phộc hạ (SARVA  TATHÀ   BUDDHA  ABHISIKTE  SVÀHÀ) Tát phộc mạo địa tát đa-phộc, vĩ sắt cật-đế, sa-phộc hạ (SARVA  BADHISATVA  ABHISIKTE  SVÀHÀ) Tát phộc nê phộc đa, vĩ sắt cật-đế, sa-phộc hạ (SARVA  DEVATÀ  ABHISIKTE  SVÀHÀ) Tát phộc đát tha nga đa cật-lị nãi dạ, địa sắt xỉ đa, hột-lị nãi duệ, sa-phộc hạ (SARVA  TATHÀGATA  HRDAYA  ADHISTITA  HRDAYE  SVÀHÀ) Tát phộc đát tha nga đa tam ma dã tất đệ, sa-phộc hạ (SARVA  TATHÀGATA  SAMAYA  SIDDHE SVÀHÀ) Ấn nại-lệ, ấn nại-la phộc để, ấn nại-la nhĩ-dã phộc lộ chỉ đế, sa-phộc hạ              (INDRE  INDRAVATI  INDRA  VYAVALOKITE  SVÀHÀ) Một-la hám-mính, một-la hám-ma để-dữu sử đế, sa-phộc hạ (BRAHME BRAHMA  ADHYUSTE  SVÀHÀ) Vĩ sắt-nỗ nẵng mạc tắc cật-lị đế, sa-phộc hạ (VISNU  NAMASKRTE  SVÀHÀ) Ma hệ thấp-phộc la mãn nễ đa, bố nhĩ đá duệ, sa-phộc hạ (MAHE’SVARA  VANDITA   PÙJITAYE  SVÀHÀ) Phộc nhật-la đà la, phộc nhật-la bá ni, ma la vĩ lị-dã địa sắt-xỉ đế, sa-phộc hạ (VAJRADHÀRA VAJRAPÀNI BALA  VÌRYA  ADHISTITE  SVÀHÀ) Địa-lã đa la sắt-tra-la dã, tát-phộc hạ (DHRTARÀSTRÀYA SVÀHÀ) Vĩ lỗ trà ca dã, tát-phộc hạ(VIRÙDHAKÀYA SVÀHÀ) Phệ thất-la ma noa dã, tát-phộc hạ (VAI’SRAVANÀYA SVÀHÀ) Tạt đốt ma hạ la nhạ nẵng mạc tắc-cật-lị đá dã, tát-phộc hạ (CATUR  MAHÀ  RÀJA  NAMASKRTÀYA SVÀHÀ) Diễm ma dã, tát-phộc hạ (YAMMÀYA SVÀHÀ) Diễm ma bố nhĩ đa, nẵng mạc tắc-cật-lị đá dã, tát-phộc hạ (YAMMA  PÙJITA  NAMASKRTÀYA  SVÀHÀ) Phộc lỗ noa dã  Tát-phộc hạ (VARUNÀYA  SVÀHÀ) Ma lỗ đá dã  Tát-phộc hạ (MARÙTÀYA  SVÀHÀ) Ma ha ma lỗ đá dã Tát-phộc hạ (MAHÀ  MARÙTÀYA SVÀHÀ) A ngân-nẵng duệ Tát-phộc hạ (AGNAYE SVÀHÀ) Nẵng nga vĩ lộ chỉ đá dã Tát-phộc hạ (NÀGAVILOKITÀYA SVÀHÀ) Nê phộc nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (DEVA GANE  BHYAH SVÀHÀ) Nẵng nga nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (NÀGA GANE  BHYAH SVÀHÀ) Dược khất-sái nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (YAKSA  GANE  BHYAH SVÀHÀ) La kất-sái sa nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (RÀKSASA  GANE  BHYAH SVÀHÀ) Ngạn đạt phộc tát nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (GANDHARVA  GANE  BHYAH  SVÀHÀ) A tô la nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (ASURA GANE  BHYAH SVÀHÀ) Nga lỗ noa nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (GARUDA  GANE  BHYAH  SVÀHÀ) Khẩn na la nga nãi tỳ-dược Tát-phộc hạ (KINNARA  GANE  BHYAH SVÀHÀ) Ma hộ la nga nễ tỳ-dược Tát-phộc hạ (MAHORAGA  GANE  BHYAH SVÀHÀ) Ma nộ sái tỳ-dược Tát-phộc hạ (MANU  SYE  BHYAH SVÀHÀ) A ma nộ sái tỳ-dược Tát-phộc hạ (AMANU  SYE  BHYAH SVÀHÀ) Tát phộc nghiệt-la hệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (SARVA  GRAHE  BHYAH SVÀHÀ) Tát phộc bộ đế tỳ-dược Tát-phộc hạ (SARVA  BHÙTE  BHYAH SVÀHÀ) Bật lị đế tỳ-dược Tát-phộc hạ (PRETE  BHYAH SVÀHÀ)Tỳ xả tế tỳ-dược Tát-phộc hạ (PI’SACE  BHYAH SVÀHÀ) A bả sa-ma lệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (APASMARE  BHYAH SVÀHÀ) Cấm bạn nễ tỳ-dược Tát-phộc hạ (KUMBHÀNDE  BHYAH SVÀHÀ)
         Án- Độ lỗ, độ lỗ Tát-phộc hạ (OM- DHURU  DHURU SVÀHÀ  
           Án- Đổ lỗ, đổ lỗ Tát-phộc hạ (OM- TURU  TURU SVÀHÀ)
         Án- Mẫu lỗ, mẫu mẫu Tát-phộc hạ (OM- MURU  MURU  SVÀHÀ) .
         Hạ nẵng, hạ nẵng, tát phộc thiết đổ-lỗ nẫm Tát-phộc hạ (HANA  HANA  SARVA  ‘SATRÙNÀM SVÀHÀ) Ná hạ, ná hạ tát phộc nột sắt-tra, bát-la nột sắt-tra nẫm Tát-phộc hạ (DAHA  DAHA  SARVA  DUSTA  PRADUSTANÀM  SVÀHÀ) Bát tá, bát tá tát phộc  bát-la để dã dịch ca, bát-la để-dã nhĩ đát-la nẫm (PACA  PACA  SARVA  PRATYARTHIKA  PRATYÀMITRANÀM) Duệ ma ma (YE  MAMA) A tứ đế sử noa(AHITESINA) Đế sam, tát phệ sam, xả lị lãm, nhập-phộc la dã, nột sắt-tra tức đá nẫm Tát-phộc hạ (TESAM SARVESÀM  ‘SARIRAM JVALÀYA  ADUSTA   CITTÀNÀM SVÀHÀ) Nhập-phộc lý đá dã Tát-phộc hạ (JVALITÀYA  SVÀHÀ)
Bát-la nhập-phộc lý đá dã Tát-phộc hạ (PRAJVALITÀYA SVÀHÀ) Nễ bát-đá nhập-phộc la dã Tát-phộc hạ (DÌPTA  JVALÀYA SVÀHÀ) Tam mãn đa nhập-phộc la dã Tát-phộc hạ (SAMANTA  JVALÀYA  SVÀHÀ) Ma ni bạt nại-la dã Tát-phộc hạ (MANI  BHADRÀYA  SVÀHÀ) Bố la-noa bả nại-la dã Tát-phộc hạ (PÙRNA  BHADRÀYA SVÀHÀ) Ma hạ ca la dã Tát-phộc hạ (MAHÀ KÀLÀYA SVÀHÀ) Ma để-lị nga noa dã Tát-phộc hạ (MATRANÀYA SVÀHÀ) Dã khất-sử ni nẫm Tát-phộc hạ (YAKSANÌNÀM SVÀHÀ) La khất-ma tỷ nẫm Tát-phộc hạ (RAKSASÌNÀM SVÀHÀ) A ca xả ma để-lị nẫm Tát-phộc hạ (ÀKA’SA  MÀTRNÀM  SVÀHÀ) Tam mẫu nại-la phộc tỷ nãnh nẫm Tát-phộc hạ (SAMUDRA  VÀSINÌNÀM SVÀHÀ) La để-lị, tả la nẫm Tát-phộc hạ (RÀTR CARÀNÀM SVÀHÀ) Nễ phộc sa, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (DIVASA  CARÀNÀM SVÀHÀ) Để-lị tán-đình, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (TRISANTYA  CARÀNÀM SVÀHÀ) Vĩ la, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (VELA  CARÀNÀM  SVÀHÀ) A vĩ la, tạt la nẫm Tát-phộc hạ (AVELA  CARÀNÀM SVÀHÀ) Nghiệt bà ha lệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (GARBHA  HÀRE  BHYAH SVÀHÀ) Nghiệt bà tán đá la ni. Hộ lỗ, hộ lỗ Tát-phộc hạ (GARBHA  SANDHÀRANI  HURU  HURU SVÀHÀ)
         Án- Tát-phộc hạ (OM- SVÀHÀ) Tát phộc Tát-phộc hạ (SVÀH SVÀHÀ) Bộc Tát-phộc hạ (BHÙH SVÀHÀ) Bộ phộc Tát-phộc hạ (BHÙVÀH SVÀHÀ) Án, bộ la-bộ phộc, tát-phộc Tát-phộc hạ (OM- BHÙRBHÙVÀH  SVÀH SVÀHÀ) Tức trưng, tức trưng Tát-phộc hạ (CITI  CITI SVÀHÀ) Vĩ trưng, vĩ trưng Tát-phộc hạ (VITI  VITI SVÀHÀ) Đà la ni Tát-phộc hạ (DHÀRANÌ SVÀHÀ) Đà la ni Tát-phộc hạ (DHARANI SVÀHÀ) A ngận-nãnh Tát-phộc hạ (AGNI SVÀHÀ) Đế tổ, phộc bổ Tát-phộc hạ (TEJO  VAPU SVÀHÀ) Tức lị, tức lị Tát-phộc hạ (CILI  CILI SVÀHÀ) Tất lý, tất lý Tát-phộc hạ (SILI  SILI SVÀHÀ) Một đình, một đình Tát-phộc hạ (BUDDHYA  BUDDHYA SVÀHÀ) Tất đình, tất đình Tát-phộc hạ (SIDDHYA  SIDDHYA SVÀHÀ) Mạn noa la tất đệ Tát-phộc hạ (MANDALA  SIDDHE SVÀHÀ) Man noa la mãn đệ Tát-phộc hạ (MANDALA  BANDHE SVÀHÀ) Tỷ ma mãn đà nãnh Tát-phộc hạ (‘SÌMA BANDHANI SVÀHÀ) Tát phộc thiết đốt-lỗ nẫm, tiệm bà tiệm bà Tát-phộc hạ (SARVA ‘SATRÙNÀM JAMBHA  JAMBHA SVÀHÀ) Sa đảm-bà dã, sa đảm-bà dã Tát-phộc hạ (STAMBHÀYA  STAMBHÀYA  SVÀHÀ) Thân ná, thân ná Tát-phộc hạ (CCHINDHA  CCHINDHA  SVÀHÀ) Tẫn ná, tẫn ná Tát-phộc hạ (BHINDHA  BHINDHA SVÀHÀ) Bạn nhạ, bạn nhạ Tát-phộc hạ (BHANÕJA  BHANÕJA SVÀHÀ) Mãn đà, mãn đà Tát-phộc hạ (BANDHA  BANDHA SVÀHÀ)  Mãng hạ dã, mãng hạ dã Tát-phộc hạ (MOHAYA  MOHAYA SVÀHÀ) Ma nĩ vĩ thuấn đệ Tát-phộc hạ (MANI  VI’SUDDHE  SVÀHÀ)Tố lị-duệ, tố lị-duệ, tố lị-dã, vĩ thuấn đệ, vĩ thú đà nãnh Sa-phộc hạ (SÙRYE SÙRYE SÙRYA VI’SUDDHE VI’SODHANE SVÀHÀ)Chiến niết-lệ, chiến niết-lệ, bố la-noa chiến niết-lệ Tát-phộc hạ (CANDRE  CANDRE  PÙRNA  CANDRE  SVÀHÀ) Nghiệt-la nễ tỳ-dược Tát-phộc hạ (GRAHE  BHYAH SVÀHÀ) Nhược khất-sát để-lệ tỳ-dược Tát-phộc hạ (NAKSTRE  BHYAH  SVÀHÀ) Thủy phệ Tát-phộc hạ (‘SIVE SVÀHÀ) Phiến để Tát-phạ hạ (‘SÀNTI  SVÀHÀ) Tát phạ sa để-dã Dã nãnh Tát-phạhạ (SVASTYA YANE  SVÀHÀ) Thủy noan yết-lị. phiến để yết lị, bổ sắt-trí yết lị, ma la mạt đạt nãnh  Tát-phạ hạ(‘SIVAM KARI ‘SÀNTI KARI PUSTI KARI BALA VARDHANI  SVÀHÀ) Thất-lị yết lị  Tát-phạ hạ (‘SRÌ  KARI  SVÀHÀ) Thất-lị dã mạt đạt nãnh Tát-phạ haï (‘SRÌYA VARDHANI SVÀHÀ) Thất-lị dã nhập-phạ la nãnh Tát-phạ haï (‘SRÌYA  JVALANI  SVÀHÀ) Nẵng mẫu tỷ  Tát-phạ haï (NAMUCI  SVÀHÀ) Ma lỗ tỷ Tát-phạ haï (MARUCI  SVÀHÀ) Phệ nga phạ để Tát-phạ haï(VEGA VATI SVÀHÀ).
     * Án- tát phạ đát tha nga đa một lị-đeá (OM- SARVA  TATHÀGATA  MÙRTTE) Bát-la phộc la vĩ nga đa (PRAVARA  VIGATI) Bà duệ xả ma dã (BHAYE  ‘SAMAYA) Tát-phộc mính (SVAME) Bà nga phộc để(BHAGAVATI) Tát phộc bá bế tỳ-dụ sa-phộc sa-để bà phộc đổ (SARVA  PÀPE  BHYAH  SVÀSTIRBHAVATU) Mẫu nãnh, mẫu nãnh, vĩ mẫu nãnh (MUNI  MUNI  VIMUNI) Tả lệ tả la ninh (CARE  CALANE) Bà dã vĩ nga đế (BHAYA  VIGATE) Bà dã ha la ni (BHAYA  HÀRANI) Mạo địa, mạo địa (BODHI  BODHI) Mạo đà dã, mạo đà dã (BODHIYA  BODHIYA) Một địa lý, một địa lý (BUDHILI  BUDHILI) Tát phộc đát tha nga đa hột-lã nãi dã, túc sắt tai  Tát-phộc hạ (SARVA  TATHÀGATA  HRDAYA  JUSTAI  SVÀHÀ).
     * Án- phộc nhật-la phộc để (OM- VAJRA  VATI) Phộc nhật-la bát-la đề sắt-xỉ đế (VAJRA  PRATISTITE) Thuấn đệ (‘SUDDHE)
Đát tha nga đa mẫu nại-la, địa sắt xá-nẵng, địa sắt xỉ-đế (TATHÀGATA  MUDRA  ADHISTANA  ADHISTITE) Tát-phộc hạ (SVÀHÀ) .
     * Án- mẫu nãnh, mẫu nãnh, mẫu nãnh phộc lệ (OM- MUNI  MUNI  MUNI  VARE) A tị tru tá đổ hàm (ABHISIMCA  TUMAM) Tát phộc đát tha nghiệt đa (SARVA  TATHÀGATA) Tát phộc vĩ nễ-dã tị sái kế (SARVA  VIDYA  ABHISEKAI) Ma hạ phộc nhật-la ca phộc tá mẫu nại-la (MAHÀ  VAJRA  KAVACA  MUDRA) Mẫu nại-lị đới (MUDRITEH) Tát phộc đát tha nga đa khất-lã nãi dạ, địa sắt-xỉ đa (SARVA  TATHÀGATA  HRDAYA  ADHISTITA) Phộc nhật-lê Sa-phộc hạ (VAJRE  SVÀHÀ) .


         Bấy giờ Đức Bạc Già Phạm nói Phổ Biến Quang Minh Thanh Tịnh Xí Thạnh Như Ý Bảo Tấm Ấn Vô Năng Thắng Đại Minh Vương Tùy Cầu Đại Đà La Ni này xong, lại bảo Đại Phạm Thiên rằng : "Này Đại Phạm ! Nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện  nào vừa mới nghe qua Đà La Ni này thì hết thảy tội chướng đã tạo, đều được tiêu diệt. Nếu hay đọc tụng, thọ trì tại tâm thì nên biết người đó là thân kiên cố của Kim Cương, lửa chẳng thể đốt, đao chẳng thể hại, độc chẳng bị trúng.
         Này Đại Phạm ! Vì sao biết là lửa chẳng thể thiêu đốt được? Ở thành Ca Tỳ La, lúc Đồng tử La Hầu La còn nằm trong thai mẹ. Mẹ Ngài tên là Gia Du Đà La, vốn là người nữ thuộc dòng Thích Ca, bà bị ném vào hầm lửa. Lúc đó La Hầu La nằm trong thai mẹ, nhớ niệm Đà La Ni này nên hầm lửa ấy liền tự trong mát biến thành ao sen. Tại sao thế ? Vì Đà La Ni này là lực gia trì của tất cả Như Lai vậy. Đại Phạm, Ông nên biết, do nhân duyên ấy mà lửa chẳng thể thiêu đốt được.
         Lại nữa Đại Phạm ! Độc chẳng thể hại. Như thành Thiện Du có người con của Trưởng giả Phong Tài, trì tụng Mật Ngôn do Thế Thiên nói. Người đó dùng lực Trì Minh câu triệu Long Vương Đức Xoa Ca mà quên Kết Giới Hộ Thân. Vị Long Vương ấy giận dữ nghiến răng, làm cho người kia chịu nỗi đau khổ nặng nề và sắp sửa mất mạng. Rất nhiều người Trì Minh trợ giúp nhưng chẳng thể cứu hộ được. Lúc ấy trong Thành có một vị Ưu Bà Di (Cận Sự Nữ) tên là Vô Cấu Thanh Tĩnh thường trì Đà La Ni Tùy Cầu Đại Minh này. Vị Ưu Bà Di đó đã thành tựu Đại Bi, khởi lòng thương xót, đi đến nơi ấy dùng Đà La Ni này gia bị cho. Vừa mới tụng một biến, thì chất độc kia liền bị tiêu diệt và người con của vị Trưởng Giả được hồi phục. Khi đó, người ấy ở bên vị Vô Cấu Thanh Tĩnh thọ nhận Đà La Ni này và ghi nhớ trong tâm. Đại Phạm nên biết, đó là chất độc chẳng thể hại được.
         Lại nữa Đại Phạm ! Ở thành Phiệt La Nại Ky,ø có vị vua tên là Phạm Thí . Vua nước lân cận là kẻ có thế lực lớn nên đã khởi 4 loại binh đến chinh phạt Phạm Thí. Thời, vị cân thần liền tâu với vua Phạm Thí rằng: "Đại Vương! Nay quân địch đi đến chiếm đoạt thành ấp của chúng ta. Mong Đại Vương ban lệnh cho chúng tôi phải dùng kế sách nào để đẩy lui quân địch ấy?" Bấy giờ Phạm Thí bảo quần thần rằng : "Nay các ngươi đừng vội chống cự. Ta có Đà La Ni Tùy Cầu Đại Minh Vương. Do uy lực của Đà La Ni này, hay đập tan quân địch khiến cho chúng giống như đám tro tàn vậy ”.
         Các quần thần liền cúi đầu tâu rằng : "Đại Vương ! Bọn hạ thần chúng tôi chưa từng nghe qua điều này". Đức vua bảo rằng:  "Nay các ngươi sẽ thấy sự hiệu nghiệm ngay lập tức.” Lúc đó Phạm Thí liền dùng nước thơm tắm gội, mặc áo mới sạch, y theo Pháp viết chép Đà La Ni này, bỏ vào trong cái hộp rồi đặt ở trong búi tóc. Nhà vua dùng Đà La Ni này hộ thân, mặc áo giáp rồi đi ngay vào quân trận. Một mình nhà vua đánh nhau với 4 loại binh, giáng phục và khiến chúng quy hàng. Đại Phạm nên biết, Đà La Ni Đại Tùy Cầu Vô Năng Thắng này là nơi gia trì của tất cả Như Lai Tâm Ấn nên có sự thần nghiệm to lớn. Ông nên thọ trì và phải biết Đà La Ni này ngang bằng với chư Phật. Sau này, vào thời Mạt Pháp sẽ vì những hữu tình : đoản mệnh, kém phước, không có phước, chẳng chịu tu phước mà làm lợi ích cho họ vậy.
         Này Đại Phạm ! Đà La Ni Đại Tùy Cầu này, y theo Pháp viết chép rồi cột trên cánh tay hoặc đeo dưới cổ. Nên biết người đó là nơi gia trì của tất cả Như Lai, là thân kiên cố của Kim Cương. Nên biết người đó là Tạng Thân của tất cả Như Lai, nên biết người đó là con mắt của tất cả Như Lai, nên biết người đó là Thân Quang Minh Xí Thịnh của tất cả Như Lai, nên biết người đó là giáp trụ bất hoại, nên biết người đó hay đập nát tất cả oán địch, nên biết người đó hay thiêu đốt tất cả tội chướng, nên biết người đó hay làm cho nẻo Địa Ngục được thanh tịnh. Này Đại Phạm ! Vì sao lại biết được như thế ? Khi xưa có một vị Bật Sô (Tỳ khưu) mang tâm hoại niềm tin trong sạch (Tĩnh Tín), làm nhiều điều vi phạm Chế Giới của Như Lai, ăn trộm tài vật của Tăng hiện tiền với vật của Tăng Kỳ Chúng, vật của Tứ Phương Tăng đem dùng làm của riêng, sau đó bị tội nặng phải chịu sự khổ não lớn lao. Thời vị Bật Sô ấy không có người cứu tế nên kêu gào to tiếng. Bấy giờ ở xứ đó, có một vị Ưu Bà Tắc (Cận Sự Nam) thuộc dòng Bà La Môn nghe tiếng kêu gào liền đi đến chỗ vị Bật Sô bị bệnh kia, khởi tâm xót thương rộng lớn, liền vì vị Tăng ấy viết chép Đà La Ni Tùy Cầu Đại Minh Vương Đà La Ni này rồi đeo dưới cổ vị Tăng. Vị Bật Sô ấy liền dứt hết mọi sự khổ não, chết ngay và bị đọa vào Địa Ngục Vô Gián. Thi hài của vị Bật Sô được đưa vào trong cái Tháp, nhưng trên thân vẫn đeo Đà La Ni đó. Do nhân ấy, khi vị Bật Sô vừa mới đọa vào Địa Ngục thì bao nhiêu sự đau khổ của kẻ thọ tội đều được chận đứng, hoặc đều được an vui. Bao nhiêu ngọn lửa mạnh mẽ của Địa Ngục A Tỳ do lực công đức của Đà La Ni này, thảy đều tiêu diệt.
         Bấy giờ, Ngục Tốt của vua Diêm La nhìn thấy hiện tượng đó thì rất kinh ngạc, liền đến trình báo với vua Diêm La và nói Già Đà rằng :
Nay Đại Vương nên biết           Việc này rất đặc biệt
Ở nơi hiểm ách lớn                    Khổ não đều ngưng nghỉ
Nghiệp ác của chúng sinh         Ngọn lửa mạnh đều diệt
Cưa cắt tự dừng đứng                Đao kiếm chẳng thể hại
Cây đao và rừng kiếm               Các nỗi khổ giết mổ
Nồi nước nóng, ngục khác        Khổ não đều ngưng trừ
Diêm Ma là Pháp Vương          Dùng Pháp trị Hữu Tình
Nhân duyên này chẳng nhỏ      Xin giúp tôi trừ nghi ".
Thời Đức vua Diêm La             Từ Vô Bi ngục tốt
Nghe việc như vậy xong           Liền nói lên lời là :
“ Việc này thật kỳ lạ !              Đều do nghiệp sở cảm
Ngươi đến thành Mãn Túc        Xét xem việc thế nào ? "
Ngục tốt nhận sắc lệnh              Ngay vào lúc đầu đêm
Phía Nam thành Mãn Túc         Nhìn Tháp của Bật Sô
Liền thấy trên thi hài                 Đeo Chú Đà La Ni
Đại Minh Vương Tùy Cầu         Tỏa ánh hào quang lớn
Rực rỡ như đám lửa                   Trời, Rồng với Dược Xoa
Tám Bộ Chúng vây quanh        Cung kính mà cúng dường
Thời ngục tốt Diêm La              Đặt hiệu Đại Tùy Cầu
(Đây là tên cái Tháp chứa thi hài của vị Tăng)
         Khi ấy Ngục Tốt Diêm La quay về nơi vua ngự, trình bày đầy đủ sự việc trên. Vị Bật Sô kia nương theo uy lực của Đà La Ni này mà tội chướng đều được tiêu diệt và tái sinh về cõi Trời Tam Thập Tam Thiên. Nhân vì thân trước, mà vị Trời này có hiệu là Thiên Tử Tùy Cầu.
         Đại Phạm nên biết Đà La Ni này có uy lực to lớn . Ông nên thọ trì, viết chép, đọc tụng, y theo Pháp mà đội đeo, ắt sẽ mau được xa lìa tất cả khổ não, tất cả nẻo ác và chẳng bị sấm sét gây thương hại. Làm sao mà biết ? Này Đại Phạm ! Ở thành Hình Ngu Mật Đàn có vị Trưởng Giả tên là Vĩ Ma La Thương Khư. Ông là nhà cự phú, kho tàng cất chứa đầy dẫy vàng bạc với rất nhiều tiền gạo. Khi ấy, vị Trưởng giả đó là một vị thương chủ. Ông dùng chiếc thuyền lớn đi vào biển để tìm kiếm báu vật. Lúc ở giữa biển lớn, ông gặp con cá Đề Di muốn phá nát thuyền. Vị Long Vương trong biển ấy lạisinh tâm giận dữ, khởi sấm sét lớn, gào thét tạo ra mây sấm và mưa đá Kim Cương. Thời các thương nhân nhìn thấy cơn mưa đá sấm sét này, đều buồn rầu phiền não và rất sợ hãi liền gấp rút kêu gọi cầu cứu nhưng vẫn không có ai đến cứu giúp. Bấy giờ, chúng thương nhân đến gặp vị thương chủ, khóc lóc bi than và nói rằng : "Nhân Giả có kế sách nào cứu giúp cho chúng tôi xa lià khỏi nỗi lo âu sợ hãi này chăng ? ! “
         Lúc đó, vị thương chủ không hề sợ hãi. Nhờ  chí tính kiên cố, có đại Trí tuệ nên khi thấy các thương nhân bị sợ hãi bức bách, ông liền bảo rằng: "Hỡi các thương nhân ! Các ông đừng sợ mà hãy khởi tâm mạnh mẽ cứng cáp. Nay tôi sẽ giúp các ông miễn trừ sự sợ hãi". Các thương nhân sinh tâm cứng mạnh, lại nói rằng : "Đại thương chủ ! Nguyện xin mau chóng nói phương cách trừ tai nạn, khiến cho chúng tôi bảo tồn được mạng sống". Vị thương chủ ấy liền bảo các thương nhân rằng : "Tôi có Đại Minh Vương tên là Đà La Ni Tùy Cầu, có thần thông to lớn hay giáng phục các điều khó điều phục. Nay tôi giải thoát các sự ưu não này cho ".
         Vị thương chủ liền viết chép Đà La Ni Tùy Cầu này đặt trên đầu cây phướng. Tức thời con cá Đê Di nhìn thấy chiếc thuyền này tỏa ánh sáng rực rỡ như đám lửa mạnh mẽ. Do đại uy lực Trí Hỏa của Đà La Ni này thiêu đốt , con cá Đê Di liền tiêu tan. Các hàng Long Vương nhìn thấy tướng này đều khởi tâm từ, liền bay từ trên hư không xuống, tác cúng dường rộng lớn và đưa chiếc thuyền này đến bãi chứa vật báu. Này Đại Phạm ! Điều này đều do Đại Trí Đại Minh Đại Tùy Cầu dùng nơi thần lực gia trì của tất cả Như Lai, cho nên có tên là Đại Minh Vương. Nếu có người viết chép Đà La Ni này, đặt ở đầu cây phướng trên thuyền thì hay chận đứng tất cả gió ác, mưa đá, nóng lạnh không đúng thời tiết, sấm chớp, sét đánh. Hay chận đứng sự kiện cáo tranh đấu của tất cả chư Thiên. Hay trừ tất cả muỗi mòng, hoàng trùng (loài sâu ăn lúa mạ) với các loài ăn lúa mạ khác. Hay làm cho tất cả loài thú mạnh ác có móng vuốt sắc bén đều lui tan. Hay khiến cho tất cả lúa mạ, hoa quả tăng trưởng hương vị và có thân thể tốt đẹp trơn láng. Nếu đất nước bị nạn khô hạn chẳng thể điều phục, do uy lực của Đà La Ni này thì Long Vương vui vẻ tuôn mưa đúng thời tiết.
         Lại nữa Đại Phạm ! Nếu có nơi lưu bố Đà La Ni Đại Tùy Cầu này thì các hữu tình đã biết điều này, nên dùng hương hoa, phướng, lọng, mọi thứ cúng dường thượng diệu. Phải dùng vải lụa thù thắng bao bọc Kinh lại, đặt ở trong cái Tháp hoặc đặt trên đầu cây phướng. Dùng mọi loại âm nhạc ca vịnh tán thán, nhiễu quanh cúng dường, chân thành lễ bái; ắt mọi việc suy tư, ước vọng mong cầu trong tâm của các Hữu Tình ấy đều được mãn túc. Nếu có thể y theo Pháp viết chép rồi đeo giữ trên thân thì mọi mong cầu đều được. Cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, thai nhi an ổn lớn dần tròn đủ và sinh nở an vui. Này Đại Phạm !  Làm sao mà biết được ? Xưa kia ở thành Ma Già Đà có vị vua tên là Thí Nguyện Thủ (Prasàrita - Pani). Do nhân duyên gì mà có tên là Thí Nguyện Thủ ? Lúc vị vua ấy sinh ra, liền giơ tay nắm bầu vú của mẹ. Do bàn tay chạm vào vú mẹ, thì bầu vú mẹ biến thành màu vàng, vú mẹ tăng trưởng tự nhiên và tuôn chảy sữa. Nếu có chúng nhân đi đến cầu xin thì nhà vua duỗi bàn tay phải, khởi niềm tin trong sạch nơi Phật, Bồ Tát, Chư Thiên rồi nghiêng úp xuống, thì mọi thứ trân bảo màu nhiệm đã được ghi chép đều tuôn vào bàn tay của nhà vua mà ban cho người cầu xin. Tùy theo sự tu hành của người ấy, mà đều được đầy đủ và đều thành tựu mọi sự an vui. Do nguyên nhân ấy nên có tên là Thí Nguyện Thủ. Vị vua ấy vì cầu con nên cúng dường chư Phật với các Tháp Miếu, nhưng cầu con chẳng được. Nhà vua giữ gìn Tế Giới rộng bày Vô Giá Thí Hội, rộng tu phước nghiệp, hộ trì Tam Bảo, tu sửa chùa chiền bị phá hoại, trong tương lai làm một kho cất chứa.
         Có điều Đại Phạm ! Ta nhớ về thời quá khứ, ở quốc cảnh Ma Già Đà này, trong thành Câu Thi Na, phần lớn tụ lạc Đại Lực Sĩ  đều theo giáo Pháp của Như Lai. Khi ấy có một vị Trưởng Giả tên là Pháp Tuệ (Dharma Mati) đối với tất cả chúng sinh khởi tâm Đại Bi, vì các hữu tình nói Pháp yếu của Đà La Ni Đại Tùy Cầu này. Ngay lúc ấy, ở trong nhà Trưởng Giả có một người nghèo nghe được Pháp màu nhiệm này, thì nói với Trưởng Giả Tử rằng : "Trưởng Giả Tử ! Tôi ở trong nhà của ông làm việc, thường vui nghe Pháp, tôi sẽ cúng dường Pháp này". Người nghèo túng này ở nhà Trưởng Giả làm đủ mọi việc, lại cúng dường Pháp. Về sau, lúc Trưởng Giả Tử ấy trao cho một đồng tiền vàng. Nhận xong, người đó phát tâm Bồ Đề, muốn cứu giúp chúng sinh, rồi dùng phước này hồi thí cho tất cả hữu tình. Người ấy liền đem đồng tiền vàng cúng dường Đà La Ni Đại Tùy Cầu này và phát nguyện rằng : "Dùng Phước xả thí này, nguyện cho tất cả hữu tình cắt đứt được nghiệp nghèo túng ". Do nhân duyên này, mà Phước xả thí ấy không hề chấm dứt. Như vậy phần lớn nhân duyên của Chủng Phước là cúng dường chư Phật, Bồ Tát.
         Vì phước nghiệp này, Thiên Tử Tĩnh Cư hiện ở trong mộng báo cho nhà vua rằng : "Nay Đại Vương có thể y theo Pháp, viết chép Đà La Ni Tùy Cầu này, khiến cho Đại Phu Nhân giữ Tế Giới và đeo giữ, ắt có con ngay". Khi tỉnh giấc, nhà vua cho triệu thỉnh một người xem tướng với chúng Bà La Môn có Trí, chọn ngày trực của Tú Diệu tốt y theo Pháp giữ Tế Giới, viết chép Đà La Ni này khiến cho Phu Nhân đeo dưới cổ. Lại sai cúng dường Tháp Suốt Đổ Ba, chư Phật Bồ Tát, rộng hành xả thí nên liền có mang. Đầy đủ ngày tháng sinh ra một đứa con đầy đủ sắc tướng đoan nghiêm thù thắng, người nhìn thấy đều vui vẻ. Đại Phạm nên biết, đó là uy lực của Đà La Ni Vô Năng Thắng Vô Ngại Đại Tùy Cầu Bảo Ấn Tâm Minh Vương, là nơi cúng dường của tất cả Như Lai, ai có mong cầu đều được vừa ý.
         Này Đại Phạm ! Người nghèo làm công cho nhà Trưởng Giả Tử  Pháp Tuệ lúc ấy chẳng phải ai xa lạ, mà chính là Vua Thí Nguyện Thủ vậy. Do đời quá khứ xả thí một đồng tiền vàng cúng dường Đà La Ni Đại Tùy Cầu này, rồi hồi thí cho tất cả hữu tình. Do nhân duyên ấy mà được Phước vô tận, nên thân đời sau được làm quốc vương, tin tưởng trong sạch nơi Tam Bảo, tâm chẳng thoái lui, rộng hành xả thí, thành tựu Đàn Ba La Mật.

PHỔ BIẾN QUANG MINH THANH TĨNH XÍ THỊNH NHƯ Ý BẢO ẤN TÂM VÔ NĂNG THẮNG ĐẠI MINH VƯƠNG ĐẠI TÙY CẦU ĐÀ LA NI

(Quyển Thượng)

PHẬT TÂM KINH "NHƯ Ý CẦU TÙY TÂM NHƯ Ý NGUYỆN "♥️👑♥️

                     

               

      

Video Diễn độc kinh TÂM TRUNG TÂM KINH

MẬT TẠNG : PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẬP II

Ban phiên dịch:

Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm

Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức

Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân


                            ---o0o---

MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 19 : PHẬT TÂM KINH PHẨM

( Cũng thông với Đà La Ni Đại Tùy Cầu )Quyển Thượng

Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi phụng chiếu dịch Phạn ra Hán

Sa môn Thích Quảng Trí  dịch từ Hán ra Việt văn.

        

         Ta nghe như thế này: Một thời Phật trú tại đỉnh núi Kim Cang nước Cu Diễm Di, xem khắp mười phương thấy toàn là màu sắc như lửa cháy. Thấy thế, Đức Phật khẽ thở dài nghĩ thương chúng sanh sai đường lạc lối, lấy gì cứu thoát; đang suy nghĩ như thế, thời thế giới của Chư Phật, cảnh giới của Bồ Tát, trên đến Ba mươi ba cõi Trời, dưới đến tận cùng Kim Cang Tế, cung điện của các Ma thảy đều rung rinh. Đồng thời, ba đời Chư Phật thảy đều suy nghĩ như vậy, lại các Bồ Tát nơi tự tâm bất động, các hàng Kim Cang khiến các quyến thuộc làm các Kim Cang sự nghiệp không thể ngồi yên nơi tòa, bay đi khắp mười phương. Các hàng Chư Thiên, Tiên, Ma đều sợ sệt không biết chạy nơi nào. Bấy giờ có mười Bồ Tát Kim Cang Tạng sửa sang y phục, bạch Phật rằng:“Bạch Thế Tôn! Đây là điềm gì? Là Thiện hay là Ác?” 

         Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn lo suy nghĩ  nên không trả lời. Khi đó, ở trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Kim Cang Mẫn bảo Bồ tát Kim Cang Tạng rằng:“Đây là tướng không tốt. Nay Phật đang nhập Từ bi Tam muội, nên cần tịnh tâm chờ Phật giải thích"

         Bấy giờ, lại có một vị Bồ Tát gọi là Đức Tạng hỏi Bồ tát Kim Cang Mẫn rằng: “Vì sao gọi là Từ bi Tam muội? ” .

         Bồ Tát Kim Cang Mẫn  đáp rằng:“ Lành thay! Lành thay! Các ông có biết chúng sanh đang bị đắm chìm trong vô minh hay không? Ta vì tất cả chúng sanh không biết được Pháp, không biết được tâm, không tự điều phục, bị các Ma sai sử, lấy gì  để cứu hộ, lấy gì để nhiếp phục các độc” .

         Liền đó, tức có ba chục ngàn vạn ức Bồ Tát đều là các Bậc Quán Đảnh Đại Pháp Vương Tử, đầy đủ đại oai đức tự tại, lại bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn! Bọn chúng con có thể làm được gì không?”.

         Phật trả lời: “ Không được” .

         Lại có trăm ngàn hằng hà sa số thế giới Kim Cang Mật Tích, mỗi vị Mật Tích có bốn Thiên hạ Lực sĩ  cũng bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn! Còn chúng con có thể làm được chăng?”.

         Phật bảo:“Không được?” .

         Lại các vị Đại Tự Tại Thiên trong tất cả Thế giới hay biến thân làm Phật, lại bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn! Sức biến hóa của chúng con có thể nhiếp được chăng?”.

         Phật bảo:“ Sức huyễn hoặc của các ông cũng không thể được”.

         Lúc ấy, trong Hội có một vị Bồ Tát tên là Bảo Đức bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tất cả chư Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Tiên, cũng không ai nhiếp phục.Nay Thế Tôn lấy gì để cứu chúng sanh ra khỏi các nạn? ”.

         Thời Đức Thế Tôn bảo Bồ Tát Bảo Đức rằng: “Chỉ có thần lực của Như Lai Tâm Trung Tâm là không thể sánh kịp.Vì sao vậy? Vì hay khiến các Ma sanh lòng từ mẫn, hay khiến các Pháp hiện tiền, Chư Phật thường không xa lìa, hay khiến Chư Bồ Tát làm quyến thuộc, các Kim Cang ban cho oai lực, hay khiến Chư Thiên thường luôn ủng hộ, các Đại Dạ Xoa, La Sát làm người trị Pháp, lại hay khiến tất cả các Đại Ma Thần sanh lòng hoan hỷ, hay khiến hành giả sức như Phật, tâm như Phật, trí như Phật, oai như Phật, hay khiến hành giả ra làm việc gì đều được tùy tâm, hay chặt đứt tất cả chướng nạn. Đế Thích, Phạm Vương đều theo phò trì, khiến cho đến Bồ Tát trọn không thối chuyển, tất cả sự nghiệp thế gian đều tự hiểu biết, cho đến tất cả quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả thế giới có thông không thông, có trí không trí, hiền hay không hiền thảy đều quy phục".

         Bấy giờ, Đại chúng nghe xong thảy đều muốn dược nghe. Bỗng nhiên, ở nơi đại chúng phát ánh sáng rực rỡ hơn trăm ngàn mặt trời .

         Bồ Tát Bảo Đức lại bạch Phật rằng:“ Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà có ánh sáng này?”.

         Phật bảo: “ Đây là ánh sáng hoan hỷ từ Tâm Trung Tâm sanh ra, ánh sáng này không có hạn lượng, không thể xưng tán, ca vịnh, cũng không ấn khả được. Vì sao vậy? Vì đồng với Chư Phật vô ấn khả, đồng với Như Lai vô sở đắc, và tất cả các tướng cũng đều vô kiến vậy! Hay gìn giữ các căn không xả ly, khiến các Ma không sai sử và thường ngăn các đạo Ma chướng ngại vậy! Do các nhân duyên trên, nên gọi là Tâm Trung Tâm” .

         Bấy giờ tất cả Đại chúng đều bạch Phật rằng:“ Chúng con đã từng theo Phật tu hành, chưa từng được nghe ca tụng công đức đại oai thần lực như vậy. Cúi xin Thế Tôn vì chúng con mà nói Chương cú tu chứng Giác địa, giúp chúng con được thọ trì Pháp này” .

         Khi đó, Đức Như Lai bảo rằng: “ Này các Thiện Nam Tử! Nay Ta sẽ nói, muốn tu thành Phật thì có mười cách nhất định sau đây sẽ thành tựu. Thế nào là mười?

         - Thứ nhất: Trì tâm bình đẳng, nơi Pháp không nghi, nơi Phật sanh tín, sanh lòng thương xót chúng sanh, không đắm sắc dục.

         - Thứ hai: Trì giới không phạm, thường nhiếp tâm không nói láo, hay giúp cho chúng sanh đoạn trừ ngã mạn.

         - Thứ ba: Không làm ác, không được sát hại, không ăn ác thực (thịt, cá v.v...), thường xét kỹ mình không thấy lỗi của người.

         - Thứ tư: Ở nơi các Pháp không sanh phỉ báng, dùng Phật Pháp ngăn ngừa tội lỗi, ở nơi Chư Tăng xem như cha mẹ.

         - Thứ năm: Không quên lời nguyện, đối với giàu nghèo có tâm bình đẳng, hay tùy thuận người.

         - Thứ sáu: Lời Phật nhớ kỹ, tu các Pháp cần cố giữ gìn, có người cầu xin thì phải dạy bảo, không cần xem xét căn Thượng, Trung, Hạ.

         - Thứ bảy: Trì các ấn khế, không được dơ uế, không kết trái thời, không vì khen hay lợi lộc mà kết ấn, không lìa bỏ chúng sanh.

         - Thứ tám: Nơi tất cả không tham lam, không đoạt lý làm ác, không dua nịnh , giữ gìn Phật Pháp như giữ thân mạng, cho đến dẫu đói nghèo cũng không sanh hai lòng.

         - Thứ chín: Thường cứu các nạn không được thối tâm, trừ kẻ không chí thành, không được khinh hay phỉ báng Pháp hoặc khiến kẻ khác cũng làm như vậy, thường phải chân thật nói lời mềm mỏng, hay thích việc lành, lòng đầy Từ bi.

         - Thứ mười: Diệt trừ các tà hạnh, lòng tin bền chắc không từ lao nhọc, trong đại chúng có Thiện trí thức cần nên lễ bái và thường gần gũi. Nếu nơi suối rừng thanh tịnh, tự có phát nguyện rộng cũng không được quên lãng, luôn luôn nhớ niệm, không khởi các tà kiến,.

         Như vậy, mười điều khiến người tu trì quyết định được bất thối chuyển, mau đến Bồ đề, thành Bồ Tát, chứng thân Kim Cang không khó”.

         Khi ấy,  các vị Bồ Tát nghe Phật dạy xong, đồng bạch Phật rằng:“Bạch Thế Tôn! Chúng con xin nguyện tu học, cúi mong Thế Tôn lấy tâm Đại bi nói Thần chú này, đệ tử chúng con muốn được thọ trì” .

         Phật  bảo:“ Các Thiện nam tử! Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà nói” .

         Thời Đức Như Lai dùng Bồ Đề Tâm khế, khiến cả đại chúng tâm không vọng động, mà nói chú rằng :

         - Úm- bạt ra bạt ra sam bạt ra sam bạt ra ấn địa lặc da vi du đạt nễ hàm hàm rô rô giá lệ ca rô giá lệ ta phạ ha .

 (OM- BHARA BHARA SAMBHARA SAMBHARA INDRIYA  VI’SODHANE HÙM HÙM RURU CALE KURU CALE  SVÀHA).Ø




         --Thứ nhất, kết Ấn Bồ Đề Tâm Khế :

         Trước hết, hai tay hai ngón vô danh co lại để nơi lưng hai ngón giữa, hai ngón cái vịn đầu móng hai ngón út, hai ngón trỏ co lại móc đầu hai ngón vô danh, chắp tay lại để nơi tim tức thành .

         Nếu có người kết Ấn khế này, tức được tâm Bồ đề, đầy đủ trí của Bồ Tát, đầy đủ các môn Ba La Mật ở nơi tâm. Tất cả Pháp môn bí mật của Chư Phật và Bồ Tát đều do Ấn này mà thành. Ở nơi tịnh thất, thọ trì Ấn khế này trải qua bảy ngày, tất cả Pháp yếu đều hiện tiền, tất cả Ma đạo, chúng sanh, đạo quỷ thần, đạo ẩn hình dấu thân, trì Ấn khế này tức biết được chỗ ở của họ, khiến không thể biến hóa ẩn dấu được Các Thiện nam tử, nếu được Ấn khế này, vừa khởi niệm liền có mười phương Chư Phật vân tập trên đảnh, khởi niệm tức có mười phương Bồ Tát làm Thị giả, mười phương các Kim Cang theo sai khiến, mười phương Chư Thiên gần gũi cúng dường. Tất cả loài Ma và quyến thuộc bỏ chỗ ở, lại giúp cho Pháp thành tựu, tất cả Tỳ Na Dạ Ca cũng đều lại cúng dường. Các Thiện nam tử! Nếu muốn hàng phục cácMa oán ngoại đạo, trước kết Ấn khế chú 21 biến để nơi tim, đứng thẳng xoay bên trái một vòng; đại địa tức thời rung rinh, tất cả loài Ma liền ẩn trốn xuống đất không dám xuất hiện, nếu có xuất hiện là do Phật thương xót cho phép, tâm không dám oán giận. Người trì chú không được giận dữ, vì như vậy Chư Phật không hoan hỷ, mười phương không yên. Ấn khế này là đầu Chư Phật, mẹ của các Pháp, vua của các ấn, mười phương Chư Phật do đây sanh ra, như Chư Phật Thế Tôn không ai dám vượt qua, cần phải xét kỹ không được lạm dụng, xem việc lớn nhỏ mà dùng. Nếu muốn trì các Pháp, trước lấyẤn khế này làm đầu. Không có Ấn khế này, các Pháp như không có chủ; dẫu có thành tựu, thân tâm cũng không quyết định, chư Thần không vừa ý, khiến làm các Pháp hay bị chướng nạn, nên thật cẩn thận, không được bất tịnh dùng Ấn.

   --- Thứ hai, Ấn Bồ Đề Tâm Thành Tựu:

         Còn gọi là Mười Phương Như Lai Đồng Ấn Đảnh Khế. Trước, lấy hai tay hai ngón giữa xoa nhau phải đè trái, đầu ngón ló ra nơi hổ khẩu, hai ngón vô danh co lại đè lưng hai ngón giữa, hai ngón cái đầu dựa nhau dựa trên lưng hai ngón vô danh, hai ngón trỏ cũng dựa trên lưng hai ngón vô danh đầu dính nhau; hai ngón út dựa nhau đứng thẳng, đầu ngón dính nhau, tức thành.

         Nếu các Thiện nam tử, Thiện nữ nhân được Ấn khế này chuyển nghiệp tiêu chướng, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Hay trì Ấn khế này, được “Văn trì bất vong” (nghe nhớ không quên), các Pháp yếu tự nhiên hiểu biết. Từ trước tới giờ dầu chưa tu trì, khởi tâm làm việc gì đều không sai.Khi trì tụng, có các ngoại đạo và Ma Ba Tuần lại làm não loạn, khởi tâm liền lui. Có cầu việc gì, lấy Ấn khế chỉ đó tức lại, dù cho các loại dùng các pháp biến hóa mê hoặc, kết khế khởi tâm liền hiện nguyên hình. Cần dùng phục tàng trong lòng đất, bảo châu nơi Long cung, kết khế khởi tâm tức thời đem lại.Các Pháp yếu trong mười phương thế giới, trong tâm mong muốn, trong niệm chỉ bảo rõ ràng. Cầu việc nhỏ không quá 3 ngày, việc lớn không quá 7 ngày.Trong mộng Phật tự ấn đảnh, tự hộ công lực. Nếu muốn thấy Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Quỷ thần, Tinh linh v.v… kết Ấn khế nơi mắt chú 108 biến tức thấy, cần phải an nhiên không được sợ sệt khiến thất tâm . Nếu nơi bổn thổ có các tai họa, kết khế chú 108 biến, lấy khế chỉ lên trời viết chữ Phật, tai họa tức tiêu trừ. Nếu trì Ấn khế bị các Ma làm não loạn, chỉ nói tiểu tặc không quá ba lần tức bỏ đi. Tất cả bệnh tật, tainạn ở thế gian đều trừ không nghi, kết khế chú mãn một ngày, bệnh cùi hủi tiêu trừ, trừ không chí tâm. Nếu cần Pháp yếu nơi Long Tạng, kết khế kêu tên Long Vương, không quá một đêm các Pháp tự hiện. Khi thấy được rồi phải gắng thọ trì không được lãng quên. Nếu được,  cần phải giữ bí mật không được truyền cho phi nhân. Cẩn thận! Cẩn thận! Phải biết việc lớn nhỏ mà dùng khế này, việc lớn nên dùng, việc nhỏ chớ dùng, dùng sẽ mất linh nghiệm. Nhớ kỹ, nhớ kỹ!

  --- Thứ ba, Ấn Khế Chánh Thọ Bồ Đề:

         Còn gọi là Nhiếp Thọ Chư Mật Môn Khế, hay còn gọi là Đảnh Luân Khế.

         Trước lấy hai ngón vô danh để ló đầu nơi giữa hai ngón trỏ và ngón giữa.Đầu hai ngón trỏ và hai ngón giữa dựa nhau, đầu bằng nhau, hai ngón cái vịn tiết trên hai ngón giữa, hai ngón út đứng thẳng, đầu dựa nhau, chắp tay lại tức thành .

         Các Thiện nam tử, muốn trì tâm pháp của Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, tùy theo Ấn này khởi niệm tức được Trí Bất Động biến khắp mười phương. Là Thánh không phải Thánh, là Ma không phải Ma, cho đến các Thiên Tiên, Tứ Thánh quả, Đại Quỷ Thần v.v... đồngthời ấn Bổn Tôn tức được khế hợp. Tất cả sự nghiệp nơi thế gian, phải hay không phải, do Ấn này đồng tâm Phật không khác.Vì sao vậy? Vì được Tam muội của Chư Phật, các Bí tạng của Chư Phật, đều do Ấn này nhiếp hết; các Phật Đảnh Luân cũng do đây mà thành; các Kim Cang cũng do đây mà an trụ; tất cả chúng Thánh đều lại quy y; tất cả các ác đều hướng thiện và đều tự nhiếp tâm vậy; tất cả các chướng tự nhiên tiêu trừ; Thiên Ma Ba Tuần tự nhiên hàng phục; Lõa hình ngoại đạo tự biết xấu hổ; tất cả Long Tạng tự nhiên khai mở; tất cả các Thần phục tàng tự đem ban cho; Long Vương bảo châu tự nhiên xuất hiện; Diêm La Thiên Tử, Ngũ đạo thần quan tự lại sám hối. Tất cả các Pháp không hiện tiền do Ấn này tự nhiên hiện tiền; tất cả các Pháp môn hoặc thuận hoặc nghịch của Phật, Bồ Tát tự nhiên hiểu biết; tất cả oai quang của Chư Bồ Tát không che được thân hành giả vậy; việc nhỏ hay lớn cầu nguyện đều được. Nếu có kẻ trai lành, người gái tín được Ấn khế này thọ trì, trước phải tịnh tâm không cho tán loạn, thường ở nơi Định, trước thọ Tam quy và các Tâm giới, sau kết ấn khế này. Ngay lúc đó, Địa thần ở mười phương bưng lư hương cúng dường hành giả. Đế Thích Phạm Vương hiện ra trước mặt, nói rõ các bổn nguyện giữ gìn. Các Đại Thần Vương ở hai bên làm chứng minh. Quán Đảnh Luân Vương và các Thần Chấp Kim Cang  ởtrước sau, tay cầm phất giữ gìn hành giả. Các Đức Như Lai ở mười phương phóng bạch hào quang chiếu thân hành giả. Các Kim Cang Tạng ở trên hư không mưa các hoa báu an ủy hành giả. Trong hào quang có Hóa Phật cầm ấn Đại Pháp Luân, hành giả được ấn đảnh rồi, các môn Phật Pháp đều tự hiểu biết. Nếu muốn kết Ấn khế này, thiêu ba thứ hương, một là Đàn hương, hai là Huân Lục hương, ba là Trầm hương, mỗi khi thiêu hương, ba đời Chư Phật đều hiện trước mắt. Muốn triệu Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang, Thiên Địa Thần kỳ, Nhật nguyệt Tinh tú, Ngũ đạo phù quan, Tư mạng Tư lục, kết Ấn khế này chú 21 biến, vận tâm khắp mười phương làm ba lần, tất cả đều đến. Nếu muốn triệu mười phương các Thần Bảo tàng, Long Tàng, Phục Tàng, kết Ấn chỉ lên trời, liền hiện trước mặt. Nếu muốn sai khiến Thần quỷ, Kim cang, Thiên Thần, Bồ Tát, cho đến tất cả các bậc có đạo lực, kết Khế để nơi miệng đọc thầm 7 lần hoặc 21 lần, tức thời hiện tiền tùy ý sai sử. Mỗi ngày không luận đêm ngày sáng chiều, kết Khế tụng 1000 lần, mười phương Như Lai tức hộ công lực. Các loại Nội đạo, Ngoại đạo, các loại có Pháp thuật làm huyễn hoặc, muốn phá khởi tâm tức phá.Tất cả các loại tật bệnh, dùng tâm Đại bi mà cứu hộ đều được trừ lành. Có các bệnh khổ lại cầu cứu, không cần đi, chỉ kết Ấn khế miệng bảo:“ Hãy đến bên bệnh nhân” tức có Thánh giả tự biến hóa thân lại mà trị. Muốn dùng Pháp này cần phải nén hơi thì thầm, không được bất tịnh dùng Pháp, nếu có bất tịnh các Pháp không thành. Nếu các ấn Pháp trì lâu không thành, kết Ấn khế này ngày tụng 1000 lần, không quá 7 ngày tức thành tựu. Không được tiết lộ, nhớ lấy, nhớ lấy, không được truyền phi khí nhân. Cần khổ luyện qua 21 ngày, được thành Phật, Bồ Tát .

 ---Thứ tư, Như Lai Mẫu Khoá:

         Còn gọi Kim Cang Mẫu, còn gọi Bồ Tát Mẫu, còn gọi Chư Phật Trí Mẫu, Chư Pháp Mẫu, Chư Ấn Mẫu, Tự Tại Thiên Mẫu, còn gọi Khế Trì Mẫu, Tổng Trì Mẫu.

         Hai tay chắp lại, hai ngón út trong lòng bàn tay, hai ngón trỏ như câu hai đầu ngón út, hai ngón cái áp lên lóng giữa hai ngón trỏ, hai ngón vô danh đứng thẳng đầu dựa nhau, hai ngón giữa đặt lên lưng hai ngón vô danh, đầu bốn ngón bằng nhau, chắp cổ tay lại tức thành.

         Ngồi Kiết già phu, tụng Chú nho nhỏ tức linh nghiệm. Nếu có kẻ trai lành, người gái tín muốn trì Ấn khế này, tâm niệm mười phương Chư Phật 7 lần, sau đó kết Ấn. Ngày Rằm kết Ấn tụng vạn biến, mười phương thế giới tất cả tự tại Pháp môn tức thời hiện tiền, cho đến ba mươi ba cõi trời cần đến, tức đến không sai khác. Chư Phật trường sanh ta cũng trường sanh. Chư Phật thành đạo, ta cũng thành đạo. Chư Phật vô ngại, ta cũng vô ngại. Chư Phật hóa thân, phóng quang, tịch định, tam muội, thuyết pháp, không ăn, thì ta cũng hóa thân, phóng quang, tịch định, tam muội, thuyết pháp, không ăn; cho đến tất cả việc gì Chư Phật làm, ta cũng có thể làm như vậy.Vì sao thế? Vì ở trong tám loại Mẫu và tám tự tại, Chư Phật thường nói tám tự tại. Ta cũng từ trong đó mà ra không khác. Khế ấn này hay nhiếp lực tự tại trong tám phương, mỗi mỗi phương giới đều có tám tùy tâm. Tám loại như sau: Một Tùy tâm biến hóa, hai là Tùy tâm từ bi, ba là Tùy tâm cứu khổ, bốn là Tùy tâm thuyết pháp, năm là Tùy tâm tự tại thuận nghịch, sáu là Tùy tâm Nhiếp chư yếu khế tự lai tương trục, bảy là Tùy tâm mà tất cả độc ác khiến đều hướng thiện cho đến thành Phật không thối chuyển, tám là Tùy tâm mà tất cả quả báo phước đức ở nơi thế gian cần cho thì cho, cần bỏ thì bỏ cần tu thì tu, muốn thành tức thành, muốn phá tức phá. Này Thiện nam tử, như vậy trong các loại Tùy tâm, mỗi loại đều có trăm ngàn việc tùy tâm không thể nói hết.nếu có cầu việc gì sáng chiều kết Khế ấn mà cầu đều, nếu không như vậy Chư Phật tức vọng ngôn. Nếu có kẻ trai lành người gái tín muốn trì Ấn khế này, cầu Phật vị, cầu Bồ tát vị, cầu Kim Cang vị, Thiên thần vị, cầu hiện mười phương, cầu sanh Tây phương, cầu sanh hạ phương, cầu sanh trong mười phương tự tại, cầu trí thế gian biện luận giỏi v.v… chỉ cần chí tâm suy nghĩ việc đó,  ngày tụng 1000 biến, trong bảy ngày tức được một lần ra khỏi, không có trở lại. Vì sao vậy? Vì đồng thân Phật được Phật thần thông, vì đồng tâm Phật được Phật từ vậy, vì đồng Phật nhãn thấy như Phật, vì đồng Phật lực được Phật giữ gìn, vì đồng Phật hành ở nơi thế gian, vì đồng Phật ấn gần gủi lãnh thọ, vì biến hóa đồng với Chư Phật, vì được Pháp thân nên chư Ma Ngoại đạo tự hàng phục; lấy gì hàng phục? Thấy hai thân tức thấy một thân, thấy hai Phật tức thấy một Phật. Thiện nam tử! nên biết Khế này chỉ Phật với Phật mới có kẻ nhớ trì, không phải kẻ sơ tâm, không phải Kim Cang. Phật chỉ cho Khế này, không phải là kẻ hạ căn vậy. Thiện nam tử, nếu đem Khế này mười phương thế giới các chỗ thông linh, không có gì không biết, không gì không nhiếp thọ được, không ai không đảnh lễ, không ai không theo, không ai không ủng hộ. Mười phương Như Lai thảy đều ấn khả, làm cho trăm ngàn hằng hà sa số thế giới, đại địa thảy đều tràn ngập, núi Tu Di nát như bụi, chỉ có Phật thân là không thay đổi. Nên biết Khế này Chư Phật nắm giữ, nếu có Bồ Tát không từ nơi Phật thọ Khế này mà biết là điều vô lý, hết cả thế giới Chư Thiên không thể thấy nghe được. Vì sao vậy? Vì chư Phật cho không vậy!

         Thiện nam tử! Nên biết Khế này có vô lượng lực. Nếu hay chí thành, trì qua ba ngày, đại địa chấn động như Phật ra đời, ánh sáng mặt trời mặt trăng tự nhiên lu mờ.Vì sao vậy? Vì do oai lực của Khế. Thiện nam tử! Kết Khế ấn này của Ta, mọi việc làm Ta chỉ là phụ thuộc; đồng như tâm Ta, Ta cũng chỉ phụ thuộc; đầy đủ Đại từ bi, Ta cũng chỉ là phụ; trưởng dưỡng Pháp tánh, Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay độ chúng sinh cho đến Bồ đề, Ta cũng chỉ phụ thuộc; y theo kinh giáo nhớ nghĩ nơi tâm, Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay vì chúng sanh làm việc quyết dịnh, Ta cũng chỉ phụ thuộc; hay khiến chúng sanh tu hành giới hạnh, đối với chúng sanh làm các chế ước (điều kiện giao hẹn) khiến không dám sai, Ta cũng chỉ là phụ thuộc. Thiện nam tử! Nên biết Khế này, trì tụng trăm lần đưa lên đến đầu tức hay phóng quang, vì Khế này là tâm Như Lai. Kết Khế, trì trăm biến tự được tâm Phật. Nên biết Khế này là mắt Như Lai, trì Khế trăm biến đưa để nơi mắt trái tức thấy như Phật, đưa để nơi mắt phải tức thấy như  Bồ Tát, đưa để giữa chân mày tức thấy như thần thông Kim Cang bất hoại. Thiện nam tử! Nên biết Ấn này là thần thông biến hóa của Như Lai, kết Khế trì trăm lần để đùi bên trái tức đồng vô biên thân Như Lai, ở trong thân quán thấy chúng sanh đầy đủ tự tại. Đưa Ấn nơi đùi phải, tức chuyển đại địa vào trong thân. Thiện nam tử! Nên biết Ấn này là Như Lai thần túc vô ngại, kết Ấn khế trì trăm lần trên dưới tám hướng, tức thời xuất hiện đều không quá bảy bước, nên biết Khế này đồng Như Lai ngữ. Trì Khế trăm lần để nơi miệng khi nói Pháp yếu,  đồng như Phật nói, tất cả đều hợp khế kinh, nên biết Khế này là Như  Lai đảnh luân.Trì Khế trăm lần hay vì ác nghiệp chúng sanh làm đại phước điền, làm thiện nghiệp chúng sanh chứng quả Thọ ký. Nên biết Khế này, giả sử Chư Phật đồng thời ra đời, thần lực cũng như Chư Phật, vì thế Khế này không thể nghĩ bàn. Nếu tu trì cần phải trân trọng, không được truyền cho phi khí nhân. Vì sao vậy? Vì Ta tự bảo hộ. Nếu truyền cho phi khí nhân tức đồng phỉ báng Ta, nếu phỉ báng thì làm sao mà được xuất ly; nếu không xuất ly, làm sao thấy và nghe được danh hiệu mười phương Chư Phật, làm thế nào thấy được Pháp thân Chư Phật, vĩnh kiếp không được Chư Phật hộ niệm; một khi đọa vào Địa ngục, mười hằng hà sa kiếp mới được ra khỏi, khi ra khỏi Địa ngục phải qua trăm ngàn kiếp làm thân đui mù. Cho nên, phải biết Ấn khế này cần trân trọng tu trì không dùng bừa bãi.Thọ pháp Sám hối, trừ nạn cứu khổ, nhiếp chướng, độ người, hàng ma, chế độc mới dùng, việc nhỏ dùng Pháp này không thành tựu, tức thất nghiệm. Nếy thường y như trên mà làm, tức tự thành nghiệm. Giả sử Ta có nói rộng hết nghĩa lý bao trùm khắp đại địa cũng không thể nào hết được .

 --- Thứ năm, Ấn khế Như Lai Thiện Tập Đà La Ni:

         Còn gọi là Nhiếp Nhất Thiết Bồ Tát Khế, hay còn gọi là Nhiếp Nhất Thiết Kim Cang Tạng Khế, Pháp Thân Khế, Tập Nhất Thiết Đà La Ni Thần Tạng Khế, Tập Nhất Thiết Oai Lực Tự Tại Khế.

         Chắp hai tay lại, hai ngón giữa phải đè trái xoa nhau trong lòng bàn tay, hai ngón cái trái đè phải vịn ngón giữa như cái vòng, hai ngón vô danh, hai ngón út đứng thẳng đầu dựa nhau, hai ngón trỏ vịn hai ngón vô danh vặn tiết trên tức thành.

         Nếu có kẻ trai lành, người gái tín muốn trì Khế này, nơi sớm chiều chí tâm xưng niệm Chư Phật trong ba đời, mặt ngó mười phương nói Pháp Tam Quy, súc miệng rửa tay cho sạch sẽ, sau đó kết Ấn, bế tâm tịnh tọa, trong tâm tự biết lời của Chư Phật trong mười phương, một lòng nhớ nghĩ chứng Chư Phật tâm, lời lẽ Chư Phật từ đó mà ra, biến khắp thế giới chỗ có các Đà La Ni Pháp môn, hết thảy Đà La Ni  thần, trăm vạn ức Kim Cang Tạng Vương, trăm vạn ức thế giới Bồ Tát Ma Ha Tát và Chư Phật Đà La Ni, Long Tạng, Nhật Tạng, Nguyệt Tạng, Địa Tạng, A Tu La Tạng, Phục Tạng, Bảo Tạng, Chư Phật bí mật cho đến tất cả Tạng Từ bi của Chư Phật đều tự khai mở trước mắt, biến khắp mười phương thế giới chỗ có các Tạng Đà La Ni tự nhiên hiểu biết; hiểu biết xong thời tất cả các Pháp Đà La Ni lấy dụng không ngại. Thiện nam tử! Nếu muốn thọ trì Pháp này cần đốt Đàn Hương, Huân Lục Hương, Trầm Hương v.v… y phục sạch sẽ, xong phát thệ rằng: “ Con nay thọ trì Pháp ấn này là vì tất cả chúng sanh". Phát lời thệ xong tức kết Ấn trì đến 108 biến, tất cả Chư Phật hóa làm trăm bách ức Thần cầm các khí trượng cùng các quyến thuộc vi nhiễu người trì chú; trăm ức Thần quân, trăm ức Quỷ quân, cùng chư Thiên tiên thảy đều tự tập hỏi rằng:“ Có cần sai sử điều gì, ta sẽ làm cho không dám trái”, chỗ cần làm đều được. Nếu chỗ cần các thất bảo, các Pháp ẩn hình và dùng Pháp giáo hóa tứ thiên hạ có đại oai lực, các vị trên đều tự nhiên thuận phục. Nếu không thuận, dùng Khế chỉ đó, tức trên Khế hóa ra binh chúng cầm lửa biến khắp mười phương thế giới, các binh chúng thân cao lớn vi nhiễu, Vua Chuyển Luân Vương dùng Ấn này thống trị thiên hạ. Muốn được Pháp tạng, trì Ấn để nơi tim tức có Trì Đà La Ni Vương vì nói Pháp yếu tự nhiên hiểu rõ. Muốn hàng phục ác thú, dùng Khế chỉ đó, tức thời trên Ấn có năm con sư tử xuất hiện, ác thú tự nhiên quy phục. Xưa Như Lai ở Ma Ha Đà La quốc, dùng Ấn này hàng phục voi điên Hộ Tài. Nếu muốn dời đổi núi non, kết Ấn khế chú 1000 biến, dùng Ấn chỉ núi ba lần chỉ đất ba lần, tức thời Địa Tạng và Kim Cang Tế từ dưới núi vọt lên, đem núi dời qua phương khác mà tất cả chúng sanh không hay biết, Như Lai phóng quang động địa là dùng Ấn khế này. Nếu có tai họa, tật bệnh lưu hành, mưa gió sấm sét, mưa đá v.v… muốn dứt, kết Ấn chú 7 lần, luân chuyển ba vòng, các tai họa đều diệt . Nếu trì các chú lâu ngày không linh nghiệm, nên kết Ấn này để nơi đảnh đầu, tức được tối thắng thành tựu không nghi. Các Thiện nam tử, Như  Lai thần lực do đây mà có, Như Lai Khế ấn Pháp do đây mà ra, quá khứ Chư Phật Pháp Tạng cũng do đây mà tập, Chư Phật nhiếp phục Bồ Tát, Kim Cang thần lực, Chư Thiên tiên, tất cả ngoại đạo để làm phục sự đều dùng Ấn khế nầy. Nếu tất cả các Pháp của chúng sanh không hiểu được, kết Ấn chỉ nơi tâm kẻ kia tức hiểu rõ Chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang làm các việc thần thông, người không biết được đều dùng ấn khế này. Chứng đắc Đà La Ni, làm chấn động Tam Thiên thế giới không do Ấn khế này mà được là điều vô lý. Các Khế ấn trì tụng phần nhiều bị khuyết phạm, đắc Khế ấn này không lo khuyết phạm, không sợ mất Pháp, tất cả các Thánh trên từ Chư Phật dưới đến các loại ẩn hình biến hóa đều lại cúng dường. Nếu trì Ấn này, thần lực cũng bằng Chư Phật, nếu người tu Vô Thượng Bồ Đề dùng đó tức có oai lực. Không được truyền cho kẻ tiểu tâm tham lam, có truyền cũng vô dụng lại khởi lòng phỉ báng. Thiện nam tử, nên biết Ấn này là thân Chư Phật hay nhiếp các Pháp tự thông rõ vậy, nên biết Khế này là thân Như Lai hay nhiếp các Thánh lại ủng hộ, nên biết Khế này là Như Lai tâm nhiếp các Pháp tạng tại nơi ý, nên biết Khế này là Như Lai thân hay nhiếp Bồ Tát Kim Cang giúp đỡ thế gian, nên biết khế này là Như Lai thân hay nhiếp tất cả đại thần lo việc thế gian Với Ấn khế này ta chỉ là phụ thuộc, Khế ấn này tẩy rửa tay của chúng sanh hạ tiện vì các chúng sanh là do Bồ Tát dạy dỗ đắc thọ ký Bồ Đề, Ta chỉ là phụ thuộc. Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, đừng nói Chư Phật cũng do thân tâm dục, đừng khinh Ấn này, cần nên hộ trì. Vì sao vậy? Vì Chư Phật không làm hạnh dâm dục. Chư Phật Bồ Tát không có dâm dục, nên biết Khế này đồng với Chư Phật. Nếu trì Ấn khế này, từng tạo nhân đọa vào địa ngục liền khiến chúng sanh nhớ niệm tức được sanh Thiên, không có một ai phải chịu tội khổ. Như Lai Thích Ca thị hiện bệnh vào địa ngục cứu chúng sanh, thường dùng Khế ấn này vì không có Khế ấn nào bằng. Nếu Ta nói kiếp kiếp không ngừng nghỉ cũng không thể nói hết được. Nên nhớ lấy! Nhớ lấy!

--- Thứ sáu, Ấn khế Như Lai Ngữ:

         Còn gọi là Sắc Lịnh Chư Thần Khế, Sắc Lịnh Ma Vương Ngoại Đạo Khế, Văn Trì Bất Vong Khế, Tuyên Thuyết Chư Mật Môn Khế, Đồng Nhất Thiết Chúng Sanh Ngôn Âm Khế, Nhất Thiết Nghịch Thuận Nhi Thuyết Vô Năng Giá Khế .

         Chắp hai tay lại nơi ngón vô danh, hai ngón út xoa nhau trong lòng bàn tay, dùng hai ngón cái, trái đè phải vịn nơi móng hai ngón vô danh và hai ngón út, hai ngón giữa đứng thẳng, hai ngón trỏ đứng thẳng hơi cách 2 phân .

         Nếu kẻ trai lành, người gái tín được Ấn khế này hoặc thấy hoặc nghe, tất cả tội chướng nơi thân đều được tiêu trừ, các Pháp yếu hoặc không phải Pháp yếu nói ra đều thành sự thực, lời nói ra sắc triệu các việc khắp mười phương thảy đều nghe biết, trong tâm có cần Pháp gì miệng chỉ cần nói ra: "Ta cần Pháp này,  cần lực này, cần báu này,  cần thuốc này, cần món ăn này". Tất cả các việc cần chỉ tịnh tâm kết Ấn tụng chú 1080 biến, chỗ cần các thứ tức thời chư Thần tự đem đến dâng; cho đến ba mươi ba cõi Trời nghe lời nói cũng như Chư Phật nói đều lại cúng dường. Các loại Dạ Xoa, La Sát, Quỷ thần ở mười phuong nếu có tâm độc hại, nghe lời nói tâm độc tức trừ, tự lại cầu xin phát nguyện rộng lớn:“ Chúng con xin nghe theo lời Phật không dám làm ác”. Hạ phương thế giới các Kim Cang tạng nghe lời nói, đem tòa Kim Cang dâng lên để người trì tụng ngồi lên trên đó. Duy Ma Cật lấy Kim Cang tọa ở Đông Phương dùng Ấn khế này, Như Lai Đa Bảo cũng dùng sức của Ấn khế này mà từ dưới đất vọt lên, nói gì đều được không có sai chạy. Vì sao vậy?Vì lời nói của Chư Phật biến khắp mười phương, nay lời nói đây cũng đồng với Chư Phật không khác, dùng lời nói quyết định như Chư Phật vậy. Các Pháp nói ra đều không sai lầm, nhớ nghĩ không mất cũng như Chư Phật, nói ra điều gì chúng sanh nghe được đều hiểu rõ ràng, nói đúng nói sai các chúng sanh nghe thảy đều tin theo như nghe nói Pháp, dạy bảo việc gì chúng sanh nghe theo không có quên, dầu có nói bậy chúng sanh cũng nghe như Chánh Pháp mà hộ trì. Nếu có chúng sanh nào bị thất tâm thất niệm muốn chết, Chân ngôn của Ta giúp được lại bổn tâm, khiến được chánh định, chỗ tu các pháp yếu khiến các chúng sanh ưa nghe, lời lẽ nói ra không có vượt bực. Thiện nam tử! Nếu trì Pháp này mãn 100 ngày, tất cả ngôn âm thảy đều hiểu biết, nếu hay chí tâm mà không hiểu được thì Chư Phật tức vọng ngôn. Nếu Ta nói lực của Ấn khế này không thể so sánh, không thể nói hết cho đến tất cả quá khứ, hiện tại, vị lai, các Thánh cũng không thể biết được sức của Ấn khế này, trì tụng tự biết lấy. Tất cả việc đều từ trong tâm Khế này mà sanh, không được dùng bừa bãi. Nhớ kỹ, nhớ kỹ! Chúng sanh sơ tâm không được cho thấy Ấn khế này, việc nhỏ cấm dùng, nếu dùng khiến mất nghiệm".

         Khi Đức Thế Tôn nói Pháp này xong, tất cả Bồ Tát, Kim Cang Tạng Vương cùng các quyến thuộc đều muốn thọ trì Pháp này. Tất cả thiên địa, đại trắc nhật, nguyệt, tinh tú đều mất ánh sáng, tất cả Thần linh tự nhiên tiêu mất. Phật thấy như vậy liền khẽ mỉm cười, dùng Ngữ khế chỉ mười phương giới Thiên địa đại minh, thời các Bồ Tát tự hiện thân hình, mỗi khi cất bước, trời đất rung rinh không đứng vững được, dùng hết thần lực cũng không dừng được .

         Bấy giờ, Như Lai liền lại nơi tòa ngồi, hỏi cùng Đại chúng: “ Để Ta dùng Khế ấn nầy xem sao”, tức duỗi tay trái bốn ngón đưa về phía trước, ngón cái để nơi lòng bàn tay, tay phải cũng như tay trái để nơi vế phải, tức thời đại chúng và đại địa trở lại bình thường .

         "Lành thay! Các ông nên biết, thần lực của Chư Phật là không thể nghĩ bàn, tâm các Bồ Tát được an ổn, được các Pháp, có chỗ gia trì, nếu không như vậy, dầu có tu hành cũng chẳng được gì".

         Bấy giờ, Bồ tát Bảo Đức bạch Phật rằng: “ Bạch Thế Tôn! Khế ấn này gia trì như thế nào? Sao Ngài không nói ra, nếu không nói ra thì cũng như có bệnh mà không có cách cứu chữa".

         Bấy giờ, Phật bảo Bồ Tát Đức Tạng rằng: “Định ấn này của Ta, tất cả Chư Phật do đây được Định. Từ xưa đến nay, chỉ có Chư Phật mới có Khế ấn này, còn tất cả Chư Bồ Tát Kim Cang không có, nếu có tức đồng với Chư Phật. Sức Định lực này không có lời nào nói hết được, vì không nói hết được nên các Pháp cũng không thể nào nói cho hết được, không ai nói được, không ai hiểu được, chỉ Ta mới hiểu được thôi, chỉ có quá khứ Chư Phật là hiểu được; nếu có Bồ Tát mà hiểu được tức đồng với Chư Phật không phải là Bồ Tát ” .

         Lúc Như Lai nói lời này xong, phương dưới có một vị Bồ Tát tên là Vô Ngại Thông từ dưới đất vọt lên trước Đức Phật buồn rầu ngồi yên, bảo tọa cũng không có, ngồi mà thở dài không xưng tán Phật khiến đại chúng rất là kinh quái, đều đồng hỏi Phật. Phật đáp rằng: “Để Ta sẽ hỏi”, liền bảo Bồ Tát Vô Ngại Thông: “Ông nay sao lại thở dài? “ .

         Thời Bồ tát Vô Ngại Thông vui vẻ, tòa báu xuất hiện oai quang rực rỡ chiếu khắp Đại chúng, từ tòa bước xuống sửa y áo đến trước Phật bạch rằng: “Con ở nơi phương dưới, nghe Phật nói Tâm Trung Tâm và các Ấn khế vui vẻ thọ trì được thần thông này, nay lại nơi đây. Lành thay! Đức Thế Tôn, xin chứng biết cho con ” .

         Phật bảo: “ Ta sở chứng cho ông nên cứu giúp chúng sanh, chỗ thấy biết đều ban cho họ. Ta sẽ đem Phật tâm ban cho, nếu được Phật tâm ban cho tức là Mạn Đà La” .

         Bồ Tát Vô Ngại Thông bạch rằng: “Thế Tôn! Người chưa thành Phật, người không quyết định, người nhiều ràng buộc, người không Từ bi, các hàng như trên có vào được không?” .

         Phật bảo: “ Vô Ngại! Nay Ta nói Pháp chỉ vì hàng hạ liệt, các hàng như trên muốn vào được Mạn Đà La, trong ngày làm Đàn có ba viện , không cần đồ cúng, chỉ cần hương thơm; 3 cây kích, nếu không có kích dùng 3 cây đao thay thế; 3 chén nước thơm; 3 mặt kiếng; chu vi Đàn 8 thước . Viện thứ nhất màu trắng, viện thứ hai mà đỏ, viện thứ ba màu xanh y như 5 phương pháp. Viện thứ nhất cầu Phật, viện thứ hai cầu Bồ Tát, viện thứ ba cầu Kim Cang. Ngoài ra các Thiên tiên quỷ thần, các Pháp ở nơi ngoài Đàn mà cầu, cử tâm đắc thành, không cần nhiều ngày đã có hiệu nghiệm; không được truyền ấn; có công hiệu nên cố gắng, cần phải tinh tấn các Pháp tự nhiên chứng được ".



         Bấy giờ Đại chúng bạch với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Pháp khế này do đâu được trì, được hoán đảnh, được gia hộ, hay các thần thông biến khắp mười phương, khiến tất cả đều quy phục, hay khiến các Pháp tự nhiên hiện tiền, chỉ có người ở nơi Phật tu trì Pháp này mà được, các người như trên Phật tự chứng biết, nay chúng con cũng muốn thỉnh làm nơi quy y ".

         Phật bảo: “ Các ông hãy chờ trong chốc lát sẽ thấy.” .

         Tức thời Đức Phật ở nơi tự tâm kết trì Ngữ Khế, bảo khắp mười phương Phật Tâm Trung Tâm rằng: “ Các ông mau lại, Đại chúng muốn được thấy” .

         Bấy giờ, Bồ Tát Đa La dẫn Bồ Tát Tam Khế và các quyến thuộc trước sau vi nhiễu, từ phương Đông biến thân làm Phật mà lại, tất cả Đại chúng thành tướng Bồ Tát hiện ra trước Phật. Bồ Tát Kiên Ý từ phương Nam đẫn các Bồ Tát Thành tựu khế hóa thân làm Phật, mỗi mỗi các quyến thuộc đều tự biến thân làm Bồ Tát. Phật Tâm Vương Sư Tử Hống Vương từ phương Tây lại dẫn các Bồ Tát chánh thọ Khế tứ nước kia mà lại, nơi đường gặp các loại chúng sanh thị tâm phi tâm đều dùng Ấn chỉ đó, tức đều chuyển tâm hướng Phật, những người chưa nghe đều được thọ ký Bồ Tát. Như Lai Tối Thắng có một Đồng tử 14 tuổi trì Mẫu khế ấn từ phương Bắc mà đến, đi qua các nước có các quân của đại Dạ Xoa La Sát, quân quỷ của Đại Hắc, các loại quân phun lửa đại hắc phong và rắn lớn, tất cả các loại như vậy dùng Phật Mẫu Khế chỉ đó, đều phát lòng từ đưa dẫn Đồng tử đến chỗ Phật, các loại ác thú đều được Phật tâm thọ ký Bồ Tát. Phật Sư Tử Âm từ phương dưới mà đến trì Bồ Tát tập Đà La Ni khế, có trăm vạn ức Thần Đà La Ni làm quyến thuộc bay trên hư không lại làm chứng. Phương trên, Như Lai Hương Tích có một Đồng tử có mùi thơm khắp thế giới trì Phật ngữ khế mà đến. Các chúng ở hạ phương, vì Như Lai Hương Tích, Như Lai Phổ Quang đều đến Diêm Phù Đề, đồng đem hoa cúng dường đến trước Phật, tất cả đều là đồng tử .

         Bấy giờ, Như Lai bảo Đại chúng rằng: “ Như vậy, các vị đã đến từ nãy giờ có đáng làm Thầy các ông không? Các vị này đều thừa Phật lực, có đại thần thông không bao lâu sẽ đuợc thành tựu” .

         Đại chúng không một ai lên tiếng.Phật bảo : “Lắng nghe! Ta sẽ gọi một người khác” ; liền gọi rằng: “Nầy đồng tử Quang Minh! Hãy đến đây!”.

         Bấy giờ, đồng tử đang ở tại núi Tuyết Sơn, nghe Phật gọi tức thời liền tới nơi Đại chúng. Đại chúng nói rằng: “Phật gọi ông tới, vậy còn quyến thuộc ở đâu?” .

         Đồng tử đáp rằng: “ Tất cả các ông đều là quyến thuộc của ta”.

         Đại chúng hỏi rằng: “Chúng ta cùng ông không từng biết nhau, tại sao bảo chúng ta là quyến thuộc?” .

         Bấy giờ Đồng tử mật trì Ấn khế chỉ nơi đại chúng, ngoại trừ Hóa thân của Phật, còn tất cả chúng Bồ Tát thảy đều đảnh lễ Đồng tử, khiến Đại chúng đều không hiểu tại sao. Tứ chúng lễ xong thưa rằng : “Nay chúng tôi xin thỉnh Ngài làm Thầy” .

         Đồng tử đáp rằng: “Như Lai Ngữ khế chân thật không hư dối, các ông nên thọ trì sẽ được như Ta không khác” .

         Thời tất cả Đại chúng đồng lời bạch cùng Phật rằng: “Đồng tử này tu pháp Khế lâu chưa, mà nay có đủ thần lực nhiếp Đại chúng ở đây?” .

         Phật bảo: “Các ông lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà nói nhân duyên này: Khi xưa, lúc Ta ở núi Linh Thứu tu hành, thường có nhiều loại ác thú muốn ăn thịt. Khi đó, ở trong Định, Ta nhớ lại Thầy Ta là Như Lai Không Vương có nói một câu chú, chỉ tụng một biến, tất cả các loại trùng thú độc ác đều được Phật tâm không có làm hại. Ta lại niệm tiếp, thời tất cả các loại ác trên đều được giới Bồ Tát, thảy đều ăn rau cỏ. Sau đó có một Đồng tử đến lo lắng cung cấp thừa sự cho Ta một đêm, và trộm được chú này. Sáng ra, Đồng tử từ giã Ta mà đi, sau 7 ngày được đại thần lực. Sau đó, gặp Ta lại muốn dùng thần thông nhiếp phục Ta, hai ba lần không được. Các ông nên biết, trộm Pháp mà còn có được thầøn thông như vậy, huống là được công khai thọ học“.

         Đại chúng nghe Phật nói, thảy đều mong muốn được như Đồng tử có đại oai thần lực tự tại. Phật bảo: “ Qua 7 ngày sau, các ông sẽ được, trừ kẻ không có lòng tin”

         Bấy giờ, có một kẻ ngoại đạo ẩn hình vào trong Đại chúng, Phật biết mà không nói ra. Kẻ kia muốn dùng Ấn khế này để hàng phục các vị Bồ Tát, vì khởi tâm ác nên lúc đang kết Khế, thân tâm bị thiêu đốt, các Pháp đều mất hết. Nên biết Pháp này không được vọng truyền, tất cả sự nghiệp đều tùy ý, chỉ trừ có lòng ác, lòng ganh tỵ tức không thành, bằng không quyết chứng không sai''.

         “Lành thay! Bạch Thế Tôn! Xin nguyện ấn khả, nguyện cho chúng con, mau được thân Phật, sớm chứng quả Phật!”

         Khi đó, Như Lai vì muốn ấn khả cho tất cả Đại chúng, liền dùng chánh thọ Bồ Tát Khế 3 lần, chỉ khắp mười phương, tức có gió đen thổi đến làm tất cả các vị Bồ Tát đều lăn nhào xuống đất. Khi các vị xuất hiện, tức có mây đỏ xuất hiện, mưa các thứ hương thơm Chiên Đàn, lại tuôn nước thơm tắm khắp Đại chúng. Đại chúng được tắm xong, đều được thần thông tự tại, được tự tại rồi tức tu Pháp này, trải qua 7 ngày đều chứng thân Phật. Do oai lực của Khế này, Phật sắp nhập Niết Bàn, các Hóa Phật dâng cúng dường. Đại chúng được nghe lực của Khế này, tất cả đều cùng nhau tán thán công đức của Phật.          

 Lành thay Đấng Cứu Độ

Đầy đủ đại thần thông

Biến hiện mười phương cõi

Đủ các Oai đức lớn

Thân Phật tức thân phàm

Đức lực đều bằng nhau

Pháp thân rất vi diệu

Cần nên phải quyết định

Nguyện chứng quả vị này

Cho đến khắp vị lai

Lời lẽ của phàm phu

Đồng Phật âm không khác

     Bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi và các Bậc Pháp Vương dùng thần lực báo khắp mười phương, tán thán Đức Phật .

Lành thay Đấng Sư tử

Từ quang chiếu thế gian

Pháp thân rất vi diệu

Hiện những việc ít có

Cần tu lâu không đắc

Phóng quang được Bồ Đề

Đồng thân như Chư Phật

Do sức của Thầy Ta

Nên biết con đường tu

Không qua chữ Từ bi

Nguyện cho người đời sau

Cũng như Ta không khác

         Tức thời Như Lai lại nói kệ rằng :

Trong tất cả các thân

Không gì hơn thân Phật

Trong các Pháp vi diệu

Không gì hơn Phật tâm

Chúng sanh được Tâm này

Chúng sanh tức là Phật

Thần lực của đức Phật

Bồ Tát không thể hiểu

Trải qua hằng sa kiếp

Ta chỉ phụ thuộc thôi

Nếu người hay thọ trì

Thân đồng như chư Phật

Nếu có lòng chí thành

Trong mộng được Bồ Đề

Ta nói nhân trong mộng

Các người hãy lắng nghe

Nếu cầu thấy Pháp thời

Tất hóa ra lầu các

Chư Phật nơi hư không

Đều tụ tại nơi đầu

Hoặc thấy qua sông lớn

Tự hóa ra thuyền bè

Hoặc thấy lên núi cao

Rất lẹ làng nhanh nhẹn

Hoặc thấy tạo chùa tháp

Nương hư không mà đi

Hoặc thấy các Pháp hội

Đại chúng nghe mình nói

Hoặc thấy loài voi dữ

Duỗi tay tức quy phục

Hoặc thấy các kinh điển

Mình tự cầm lên xem

Hoặc thấy các lầu các

Mình yên ở trong đó

Hoặc thấy sông biển lớn

Đi vào đó không chìm

Tất cả tướng mộng trên

Nhân thành tựu đến gần

Cần tu niệm như vậy

Y thọ lời Ta dạy

Nếu không làm theo đây

Cách Bồ Đề rất xa

Nên trong Khế ấn này

Cần thận trọng giữ gìn

         Bấy giờ Đại chúng nghe Phật nói Pháp xong, thảy đều vui vẻ làm theo và đồng lễ Phật mà lui ra .  

🔊🔊🔊🔊GHÉ XEM BÀI VIẾT LIÊN QUAN 

🔊🔊🔊CHIA SẺ KINH NGHIỆM TRONG HÀNH TRÌ MẬT PHÁP

BÀI ĐĂNG NỔI BẬT

TOP SIÊU PHẨM PHIM HOẠT HÌNH 3D ANIME TIÊN HIỆP VÀ TÂM LINH HUYỀN BÍ HAY NHẤT HIỆN NAY

  🤩🤩🤩SIÊU PHẨM PHIM HOẠT HÌNH 3D TIÊN HIỆP TRUNG QUỐC TINH THẦN BIẾN PHẦN 4 VIETSUB SIÊU HAY                                XEM PHIM ¥. T...

GHÉ XEM BÀI VIẾT CÓ LƯỢT TRUY CẬP NHIỀU NHẤT THANKS