TIÊU TRỪ BẦN CÙNG NGHÈO KHỔ "ĐẠI CÁT TƯỜNG THIÊN NỮ THẬP NHỊ DANH HIỆU KINH" TĂNG TRƯỞNG PHƯỚC ĐỨC TÀI BẢO ♥️♥️♥️

MẬT TẠNG
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẬP II
Ban phiên dịch:
Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm
Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức
Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân
---o0o---

MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 34

KIẾT TƯỜNG THIÊN NỮ


* Danh hiệu :
         Kiết Tường Thiên có tên Phạn là‘SRÌ MAHÀDEVI, dịch âm là: Thất lợi ma ha đề tỳ, dịch nghĩa là: Kiết Tường Đại Thiên Nữ. Đây là vị Nữ Thần hay ban bố Phước Đức.
         Lúc đầu, Thiên Nữ này vốn là một Vị Thần trong Thần thoại Ấn Độ, là Ái Phi của Na La Diên Thiên (Nàrayana Deva), mẹ của Thần Ái Dục ( Kàma ).Truyền thuyết khác cho rằng Thiên Nữ này có tên là Lạc Khất-Sử Mính (Laksmi= Kiết Khánh hoặc Công Đức Thiên). Cha tên là Long Vương Đức Xoa Ca (Taksaka  Nàga  Ràja), mẹ tên là Ha Lị Đế Mẫu (Hrtye Màtr), anh tên là Tỳ Sa Môn Thiên (Vai’sravanïa  Deva). Chân Ngôn là: 
       - OM- ‘SRÌM  MÀHA   LAKSMIYE  SVÀHÀ
         Sau này, Thiên Nữ cùng với chư Thần của hàng Đế Thích
(Indra), Ma Hê Thủ La (Mahe’svara), Tỳ Thấp Nô (Visnu) v.v.. du nhập vào Phật Giáo và trở thành hàng Thiên Thần Hộ Pháp cho Phật Giáo.
         Truyền thuyết của Phật Giáo Ấn Độ lại ghi nhận Thiên Nữ có cha tên là Long Vương Đức Xoa Ca, mẹ là Quỷ Tử Mẫu Thần, chồng là Tỳ Sa Môn Thiên Vương.
Theo Phật Giáo Trung Hoa, Công Đức Bổn Khởi Kinh ghi là:Thiên Nữ có cha tên là Luân Đầu Đàn Vương, mẹ là Pháp Giới Ma Gia. Còn trong Tế Dư Bản Đỉnh Kinh lại ghi là : Thiên Nữ có cha tên là Thiên Vương Đỉnh Đa Môn, mẹ là Đại Nữ Âm Cụ. Đồng thời, hầu hết Kinh Bôûn đều ghi nhận Thiên Nữ Kiết Tường là Hậu Phi của Thiên Vương Tỳ Sa Môn và xác nhận Thiên Nữ  là vị Bồ Tát Bát Địa, vì Đại Nguyện Lực nên hiện hình Thiên Nữ  để ban bố lợi ích cho tất cả chúng sinh.
         Sao ghi là: Vào thời Phật Tỳ Bà Thi, Bồ Tát này là cô gái tên Nguyện Sa làm 3 cái bánh Phước Điền phụng cúng Đức Phật ấy rồi phát thệ rằng: "Đời sau, con làm Bồ Tát Mãn Nguyện, lúc thành Đẳng Chánh Giác sẽ mang hình thể nữ, diện mạo đoan chính, đủ tướng trăng tròn, ban phước cho tất cả chúng sinh, nguyện chẳng bỏ thân nữ, chẳng bỏ Diêm Giới ( cõi Diêm Phù Đề )  chuyên cứu độ chúng sinh". Nếu có người cúng dường Bồ Tát này, sẽ khiến cho nương nhờ Phước Trí. Do vậy Bồ Tát này có tên gọi là Thiên Nữ Phước Phần.
         Kinh Đại Kiết Tường Kinh ghi: "Này Thiên nữ Kiết Tường! Ngươi sẽ ở Thế Giới Kiết Tường Bảo Trang Nghiêm thành Đẳng Chánh Giác, hiệu là Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác Kiết Tường Ma Ni Bảo Sanh".
         Sao ghi là : Kiết Tường Thiên hiện ra 3 loại thân.
- Thượng Căn thì hiện hình Thiên Nữ Đại Biện Tài.
- Trung Căn  thì hiện hình Thiên nữ Đại Kiết Tường.
- Hạ Căn thì hiện hình Công Đức Thiên.Nay gọi là: Thiên nữ
  Kiết Tường, Thiên nữ Phước Phần, Nguyện Sa Nữ...
         Từ đây Thiên Nữ  này có rất nhiều tên gọi như : Ma Ha Thất Lợi ( Màha‘Srì= Đại Kiết Tường hay Đại Công Đức), Thiên nữ Thất Lợi (‘Srì Devi=Thiên nữ Kiết Tường hay Thiên Nữ Công Đức), Đệ Nhất Uy Đức Thành Tựu Chúng Sự Đại Công Đức Thiên, Kiết Tường Công Đức Thiên, Thiên Nữ Bảo Tạng,  Đại Hải Sanh (Jaladhì Ja) hoặc 12 tên, 108 tên.... Riêng Kinh Đại Thiên Nữ Kiết Tường 12 Danh Hiệu thì hai tên Thí Thực Giả và Thí Ẩm Giả được Kinh Thiên Nữ Đại Kiết Tường 12 Khế 108 Danh Vô Cấu ghi nhận thành một tên là Thí Ẩm Thực, đồng thời trong Bài Đại Kiết Tường Đà La Ni của  Kinh Đại Kiết Tường Đà La Ni lại có ghi nhận thêm tên Thiên nữ Vô Úy Quân Kiết Tường (Abhayasena‘Srìni) và Bố Thí Giả (Dànàye) cùng với 10 tên đã ghi nhận trong Kinh 12 Danh Hiệu. Như thế phải chăng 12 Danh Hiệu của Thiên Nữ Kiết Tường phải được ghi nhận là:
   1- Kiết Khánh (Laksmi)   2- Kiết Tường Liên Hoa (‘Srì Padme)
   3- Nghiêm Sức (Vasìnïi)   4- Cụ Tài (Dhànàdhipati)
   5- Bạch Sắc (Gauri)          6- Đại Danh Xưng (Màha Yasa)
   7- Liên Hoa Nhãn (Padma Netre)
   8- Đại Quang Diệu (Mahà Jyoti)
   9- Bố Thí Giả (Dànàye) 10- Bảo Quang (Ratna Prabha)
 11- Đại Cát Tường (Mahà ‘Srì)
  12- Vô Úy Quân Cát Tường Nữ (Abhayasena ‘Srìni )
* Trú xứ :
         - Theo Kinh Kim Quang Minh do Ngài Nghĩa Tịnh dịch thì : Thiên nữ Kiết Tường cư ngụ tại cung điện thù thắng do 7 báu tạo thành, nằm trong vườn hoa Diệu Hoa Phước Quang gần thành Hữu Tài, thuộc lãnh địa của Thiên Vương Đa Văn.
         - Ký ghi là: Tiên nữ Đại Kiết Tường là Hậu Phi của Thiên Vương, cư ngụ trong vườn hoa Kim Tràng, thuộc cung của Đa Văn, ngày đêm luôn luôn theo sát Thiên Vương để cùng nhau ban bố lợi ích cho chúng sinh.
         - Đà La Ni Tập Kinh, Quyển 10, phần Công Đức Thiên Pháp do sư A Nan Luật Mộc Xoa, sư Ca Diếp và Pháp Sư Cù Đa phiên dịch thì: Thiên nữ Kiết Tường ở trong Điện Kim Tràng trong vườn Công Đức Hoa Quang thuộc thành A Ni Mạn Đà do Thiên Vương Tỳ Sa Môn cai quản.
         - Bạch Bảo Khẩu Sao ghi là: Thiên Nữ cư ngụ tại vườn hoa Phổ Quang trong Thành Hữu Tài của Thiên Vương Tỳ Sa Môn ở phương Bắc.
         - Giác Thiên Sao ghi: Từ phương Bắc có cung của Tỳ Sa Môn Thiên tên là Sơ Phát Hoan Hỷ, cách đó chẳng xa có cái vườn hoa tên Phổ Quang, nơi ấy có cái thành tên là Hữu Tài được trang nghiêm bằng 7 báu, vị Thiên Nữ này cư ngụ ở đấy.
         - Thiên Vương Niệm Tụng Pháp Ghi : Thượng Thủ Thánh Quán Thế (Bồ Tát Quán Thế Âm) thị hiện hình Thiên Nữ tên là Kiết Tường Thiên. Còn một số kinh điển khác cũng cho rằng Thiên nữ Kiết Tường là thân thị hiện của Thánh Quán Âm, nên cư ngụ tại Thế Giới Cực Lạc.               
         - Quyết Nghi Sao cho rằng: Thiên nữ Kiết Tường đồng Thể với Đức Như Lai Bảo Sanh, nên có trú xứ ở Phương Nam. Cụ thể trong Chân Ngôn 108 Danh có ghi câu:" AVÀKA DEVI ‘SRÌ = Nam Phương Thiên Nữ Cát Tường ). Riêng Bổn Vị được phụng thờ, thì hầu hết Kinh Điển đều cho rằng phải đặt Tượng Thiên nữ Kiết Tường ở phương Tây hoặc phương Bắc và lý giải rằng : Vì Thiên nữ Kiết Tường là thân biến hóa của Bồ tát Quán Thế Âm nên có thể đặt Bôûn Vị tại phương Tây.
         Trong Kim Cang Giới Mạn Trà La thì Tỳ Sa Môn Thiên, nguyên là Vị Thiên ở phương Tây, sau này trở thành một trong 4 Thiên cư ngụ ở phương Bắc của Núi Tu Di, nên có tên gọi là Băùc Phương Tỳ Sa Môn Thiên. Do Thiên nữ Kiết Tường là Hậu Phi của Thiên Vương, từ lúc mới phát tâm, rồi gặp được Thế Tôn Bảo Hoa Lưu Ly, đã cùng với Thiên Vương Tỳ Sa Môn phát thệ đời đời kiếp kiếp cùng tương trợ nhau, chẳng hề xa lìa và cùng nhau ban bố lợi ích cho tất cả chúng sinh. Do đó, Thiên nữ Kiết Tường thường tùytheo chồng, thoạt tiên ở phương Tây sau này cùng đến phương Bắc của Núi Tu Di và cư ngụ tại đó. Ngoài ra quan hệ vợ chồng của Thiên nữ Kiết Tường với Tỳ Sa Môn Thiên chỉ là sự biểu thị cho Tính Bất Nhị của hai Bộ ( Liên Hoa Bộ và Kim Cang Bộ ) và là một thể của Lý Trí.
         - Tối Thắng Vương Kinh Già Đà ghi là: Thiên nữ Kiết  Tường là mẹ của chư Phật, Kiên Lao Địa Thần là Tâm Bất Hoại.
         Đây chính là sự biểu thị cho Mẫu Năng Sanh của tất cả Phật Bồ Tát.Trong đó, Kiết Tường biểu thị cho nhiều ý nghĩa như : Đắc được Phước Đức, đầy đủ không thiếu sót Công Đức của mọi điều lành, tổng thể Bình Đẳng Bất Nhị, Luân viên cụ túc, sự tốt lành an vui của tất cả Phật Bồ Tát, tất cả điều tốt lành... vì là nền tảng sanh ra Phật, Bồ Tát, Phật Tử, nên Thiên nữ Kiết Tường biểu thị cho nghĩa là Mẹ của chư Phật .
         Từ ý nghĩa này, mà Thiên nữ Kiết Tường còn được coi là một phân thân của Đức Như Lai Bảo Sanh. Tuy nhiên, hình thể Thiên Nữ biểu thị cho phước đức chưa viên mãn, cho nên Thiên nữ Kiêùt Tường chỉ được coi là một đồng sự của Đức Như Lai Bảo Sanh mà thôi.Do đó, trong thứ tự Hộ Ma của Pháp Thiên nữ Kiết  Tường thì Bộ Chủ là Bảo Bồ Tát, chư Tôn là Bảøo Sanh kèm với 4 vị Bồ Tát thân cận là: Bảo, Quang, Tràng , Tiếu. Còn lúc Kết Giới thì dùng Mã Đầu Quán Âm. Cả hai điều này chính là sự  tương thừa của Bảo Bộ và Liên Hoa Bộ trong Mật Pháp.
* Hình Tượng :
         Theo Truyền Thuyết Ấn Độ, Thiên nữ Kiết Tường có 4 tay  hoặc 8 tay.
         - Trong Đà La Ni Tập Kinh, quyển 10 ghi là: Tượng Công Đức Thiên, thân đoan chánh, màu trắng đỏ. Thân có hai tay, trang sức bằng mọi thứ anh lạc, vòng xuyến, ngọc đeo tai, khoác thiên y, đội mão báu. Thiên Nữ, tay trái cầm Như Ý Bảo, tay phải kết Ấn Thí Vô Úy, ngồi trên Đài cao ( Nghi Đài ). Hình tượng Thiên Nữ rất mỹ lệ đoan trang.
         - Cát Tường Thiên Niệm Tụng Pháp ghi là: Dùng gỗ đẹp làm hình tượng, tay trái cầm Bảo Châu, tay phải tác Ấn Dữ Nguyện, thân màu trắng như con gái 15 tuổi, dùng mọi loại Thiên Y quấn quanh thân rất trang nghiêm vi diệu.
         - Kinh Tỳ Sa Môn Thiên Vương ghi là: Vẽ hình Thiên nữ Kiết Tường có mắt rộng dài, dung mạo tịch tĩnh, đầu đội Thiên Quan (Mão trời) dùng vòng xuyến, anh lạc trang nghiêm thân, tay phải tác Thí Nguyện Thủ, tay trái cầm hoa sen hồng mới nở.
         - Thiên Vương Niệm Tụng Pháp ghi là: Tay trái cầm Bảo Châu Như Ý,tay phải tác Ấn Dữ Nguyện, thân màu trắng đỏ, tên gọi là Kiêùt Tường Thiên.
         - Thạch Sơn Đạo Trường Quán ghi là: Tay trái cầm Bảo Châu Như Ýmàu xanh để ngang trái tim, tay phải tác Ấn Dữ Nguyện.
         Sự khác nhau về hai tay cầm vật khí đã được các nhà nghiên cứu lý giải như sau :
           * Tay trái biểu thị cho Phước Đức, tay phải biểu thị cho Trí Tuệ. Tay trái cầm Bảo Châu Như Ý biểu thị cho Phước Báo trang nghiêm, tay phải tác Thí Vô Úy Thủ biểu thị cho nghĩa ban phước cho chúng sanh, khiến họ không còn sự sợ hãi.
           * Tay trái là LyÙ, tay phải là Trí. Tay trái cầm viên ngọc Như Ý biểu thị cho việc: Chủ về Pháp Môn Công Đức Trang Nghiêm,  thâu nhiếp tất cả các Pháp và dùng Công Đức làm nền tảng. Tay phải kết Ấn Dữ Nguyện biểu thị cho tướng Đại Từ ban vui, khiến cho mãn nguyện của mình và của người.
           * Màu xanh biểu thị cho nghĩa Cứu Đoä. Tay trái cầm viên ngọc Như Ý màu Xanh biểu thị cho nghĩa : Sẵn sàng đem Phước Đức đã có ban cho chúng sinh. Tay phải kết Ấn Dữ Nguyện biểu thị cho nghĩa: Dùng nguyện lực Đại Bi ban Phước cứu khổ cho mọi chúng sanh.
           * Hoa Sen 8 cánh biểu thị cho 8 Phước. Tâm phàm phu ví như hoa sen chưa nở, Tâm Phật là hoa sen đã hé nở.Đây là hoa sen Tâm của Phật Tánh, một khi đã khai mở được hoa sen Tâm sẽ tự tại tuôn mưa tài bảo cho thế gian. Do đó, Tâm này chính là Tâm Bồ Đề và cũng là viên ngọc Như Ý.
         - Đại Nhật Kinh 7 ghi là : Tâm Bồ Đề là Báu Như Ý,  hay mãn tất cả ước nguyện thù thắng hiếm có. Nay tay trái cầm Hoa Sen hé nở tức là Lý thâm sâu của tay cầm viên ngọc Như Ý vậy.
* Chủng tử và Tam ma da hình :
         Thiên nữ Kiết Tường dùng chủng tử ‘SRÌ (         ), Tam Ma Gia Hình là viên ngọc Như Ý.
         - Bạch Bảo Khẩu Sao ghi là: ‘Srì là lấy chữ của Chân Ngôn làm Chủng Tử.‘Sa là Bổn Tánh Tịch, Ra là xa lià bụi trần, Ì là Tai Họa.
           ‘Sa Tự Môn là trừ tâm sai biệt của các Pháp, nhiếp tất cả Diệu Lý Bình Đẳng của Pháp.
           Ra Tự Môn là trừ sự nhơ bẩn của trần nhiễm, nhiếp tất cả Phước Đức Trí Tuệ.
           Ì Tự Môn là trừ tất cả tai họa, nhiếp Quả viên mãn cứu cánh.
         Thường cùng với 3 loại tương ưng này mà nhiếp tất cả Pháp. Đó đây, ngang dọc đều nhiếp trì, trùng trùng vô lượng bình đẳng, không có cao thấp.Rốt ráo lìa tất cả Tướng, do lìa tất cả Tướng cho nên chứng Tự Chứng Tam Bồ Đề của chư Phật. Chứng Tam Bồ Đề cho nên các Pháp Chân Tục  thảy đều được hiện tiền. Báu Chân Đà Ma Ni ( Cintamanïi ) hay mãn ước muốn nguyện cầu của tất cả chúng sanh.
           Lại nữa, ‘Srì nghĩa là Luân Viên Cụ Túc, Tổng Thể Bình Đẳng Bất Nhị.‘Srì do 3 chữ hợp thành, đó là:
     ‘Sa là Bổn Tánh Tịch bất khả đắc. Ra là ly trần bất khả đắc. Ì là tự tại bất khả đắc.
         Theo nghĩa của chữ Hrìh thì Ì là Lý Thú tự tại. Chữ Ra là chủng tử Bảo Châu của Bảo Bộ thuộc Phương Nam.Trần Cấu liền nhập vào nghĩa Bất khả đắc ly trần. Vì Ly Trần nên là Như Ý Bảo Châu.
         - Phạm Võng Khai Đề ghi là: chữ Ra là trần cấu, lúc đạt Tam Muội Đại Không thì hoàn trả tất cả trần cấu làm vật Báu.
         - Tam Chủng Phá Địa Ngục Quỹ ghi là: Vàng, ngọc, trân bảo, nhật, nguyệt, tinh thần , Hỏa châu, ánh sáng đều từ chữ La mà thành. ‘Srì nghĩa là Bổn Tánh Tịch, nơi tất cả Pháp là Pháp Bình Đẳng không có cao thấp. Lại ghi là: ‘Sa là Pháp Thân. Ra là Báo Thân, Ì là Hóa Thân. Một Thể của 3 Thân ( TamThân Nhất Thể ) là ‘Srì. Y theo lực gia trì này nên đối với chúng sanh, ban cho Phước Trí nhị nghiêm không hề cùng tận.
         - Lại nói là: 3 chữ này là 3 chữ của 3 Bộ Phật, Liên, Kim hợp Thể thành‘Srì. Chữ ‘Srì này dịch là Kiết Tường. Do vậy chữ Hán của Chủng Tử là Danh Hiệu của Tôn. Kiết Tường cũng là tên gọi của Như Ý Bảo Châu.
         - Sớ 19 ghi là: Kiết Tường Như Ý Bảo Châu. Do đó, nên biết Chủng Tử, Tam Hình, Bổn Tôn đều chỉ một Vật. Một Vật cho nên Thiên nữ Kiết Tường tức là Thực Thể của Bảo Châu, Thực Thể của Bảo Châu là Bổn Tâm của Giá Na.
         - Sớ 6 ghi là: Liên Hoa Đài Đạt Ma Đà Đô ( Padmàsana dharmadhàtu ) tức là Thân Xá Lợi. Nếu chúng sanh giải được Ấn Bồ Đề Tâm này liền đồng với Tỳ Lô Giá Na.
* Ấn và Chân ngôn :
         Ấn và Chân ngôn của Thiên nữ Kiết Tường có rất nhiều, nhưng không ra ngoài 3 Ấn và các Chân Ngôn sau :
1- Giáp Ấn hay Nội Phược Tam Cổ Ấn: Trong Tập Kinh
10 ghi là :
     - Ấn Công Đức Thiên Tâm: Hai ngón út, hai ngón vô danh cài ngược đầu giao nhau trong lòng bàn tay. Dựng thẳng hai ngón giữa sao cho 2 đầu ngón dính nhau. Hai ngón trỏ đều vịn lưng lóng trên của 2 ngón giữa, Hai ngón cái kèm dựng kề nhau.
         Ý nghĩa của Ấn này là:
            - Hai ngón út cùng cài nhau bên trong biểu thị cho Tâm Địa của Pháp Tánh tức Nội Tương Xoa, hiện Nội Chứng của Thiên Nữ.
            - Hai ngón vô danh như trên là chữ VA (      ). Hai ngón cái đè trên móng là thêm Điểm Không thành chữ VAM(      ) nghĩa là dùng Tánh của nước Tỉnh Trí rửa nghiệp phiền não nhơ bẩn cho chúng sanh và sanh ra công đức Phước Trí.
            - Hai ngón giữa dựng hợp là Bình Đẳng Tính Trí. Tôn này là Như Lai Kiết Tường Ma Ni Bảo Sanh, nên Lưỡng Bộ Nhất Vị biểu thị cho nghĩa Bất Nhị.Dùng nghĩa đó hợp dụng tức là Thể của Bảo Châu.
            - Hai ngón trỏ dựng, trái phải biểu thị cho Phước Trí nhị Nghiêm.Ngón trỏ là chữ HA (      ), nghĩa là Nhân Nghiệp. Suy ra Phước Trí như là Nhân đã được cải sửa vậy.
         Nội Phược Tam Cổ Xoa, Ấn này là Đại Ấn Quân Trà Lợi, Bình Đẳng Tính Trí Môn. Đó đây đồng thể, nên dùng đồng Ấn.
         Chân Ngôn dùng Đà La Ni Đại Cát Tường :
         -TADYATHÀ: OM- LAKSMI, ‘SRÌPADME, VASÌNI, DHÀNÀDHIPATI, GAURI, MAHÀ YASA, PADMANETRE, MAHÀ JYOTI, DÀNÀYE, RATNAPRABHA, MAHÀ ‘SRÌ, ABHAYASENA ‘SRÌNI ‘SRÌNI, SARVATHÀ  KÀRYA  SÀDHANI SINI SINI, NI NI NI NI, NÌTI NÌTI, ÌNI ÌNI, ALAKSÏMI  NÀ’SAYA SARVA  LAKSÏMI  DE’SA  DÀNÀYA, SVÀHÀ. NAMO SARVA  BUDDHA  BODHISATVE  BHYAH SVÀHA.Ø       ­
     - Ấn Bát Diệp: Chắp hai tay lại giữa rỗng, mở 2 ngón vô danh, 2 ngón giữa, 2 ngón trỏ rồi hơi co lại như cánh sen.
         - Kinh Thập Nhất Diện ghi là: Nhất thiết Kiết Tường là Kiêùt Tường Thiên, Thiên Sư. Ấn là Ấn Bát Diệp tức Thai Tạng Như Lai Thân Hội Ấn. Ấn ấy tên là Ấn Như Lai Kiêùt Tường Nguyện.
         - Kinh Lâu Các ghi nhận Ấn này là Ấn Thiên nữ Kiết Tường. Chân Ngôn là :
         - OM- VIMALA  UGRA  VATI  SAMBHARA  HÙM.
( Tạm dịch là: Hỡi Đấng có đầy đủ uy đức lìa cấu nhiễm! Hãy giúp đỡ cho con thành tựu cuộc sống cao đẹp của Thánh Nhân ).
         Do kết Ấn, tụng Chân Ngôn này sẽ mãn nguyện mong ước. Khi tác Pháp này, mọi điều yêu thích đều được như ý.
         Kinh Tỳ Sa Môn Thiên Vương ghi nhận Ấn Thiên nữ Kiết Tường là Ấn Bát Diệp. Chân Ngôn là :
         - NAMO ‘SRÌ GANÀYA. NAMO VAI’SRAVANAYA, MAHÀ  YAKSARÀJA, ADHIRÀJAYA. NAMAH ‘SRÌYAYE MAHÀ  DEVI
TADYATHÀ :
         OM- TÀRA TÀRA, TURU TURU, ‘SÀSTRA  ‘SÀSTRA, MANI KANAKA, VAJRA, VAITURYA, MUKTA, NÀMA LUMKRTA, BHÙH SARVA HÌTA KÀMA, VAI’SRAVANA, ‘SRÌ DEVI, MÀLÀM VI EHYEHI, GRHNA  GRHNA, MASA MASA, DAR’SAYA SIDDHI DÀDÀHIME  DAR’SANA  KÀMASYA , DAR’SANÀM  PRAKRADÀYA  MANA SVÀHÀ.
(  Bài Chú trên có thể diễn dịch là :
         Quy mạng Kiết Tường Chúng Đẳng. Quy mạng Tỳ Sa Môn Đại Dược Xoa Vương Căn Bản Vương Đẳng. Kính lễ Đại Thiên nữ Kiếùt Tường. Như vậy:
        OM! Cứu độ, cứu độ khắp. Nhanh chóng, cực nhanh chóng ban giáo huấn về luật giới Thánh sáng tạo vật dụng trang nghiêm là: Ngọc Như Ý, vàng, kimcương, lưu ly đem lại sự lợi ích cho tất cả hữu tình. Hỡi Thần Ái Dục! Thiên vương Tỳ Sa Môn! Thiên nữ Kiết Tường! Bậc Tối Thắng đeo tràng hoa vinh quang! Hãy khéo đến gìn giữ, cầm nắm khắp, thay đổi thay đổi khắp. Hãy ban bố cho con thành tựu Kiến Giải, khiến cho nhìn thấy điều yêu thích và khiến cho mọi người nhìn thấy con đều khởi ý vui thích. Nguyện cho con quyết định thành tựu viên mãn)
     - Ấn Bồ Tát Bảo : Đem 2 ngón giữa, 2 ngón vô danh cài chéo nhau bên trong lòng bàn tay. Hướng 2 ngón út ra ngoài cài chéo nhau, bên phải đè bên trái. Co cứng ngón trỏ phải, dựng thẳng ngón trỏ trái Co 2 ngón cái vào trong lòng bàn tay. Hợp 2 cổ tay.
         - Pháp Công Đức Thiên ghi nhận Ấn này là Công Đức Thiên Thí Trân Bảo Ấn (Thứ tư). Chân Ngôn là Đại Thân Chú tức Thiện Nữ Thiên Chú.
         - Pháp Công Đức Thiên lại còn ghi là: Kết Đại Ấn còn gọi là Ấn Công Đức Thiên Đại Thân: Đem 2 ngón vô danh câu móc nhau ở trong lòng bàn tay, dựng đứng 2 ngón út sao cho đâu ngón cách nhau một thốn, dựng thẳng 2 ngón trỏ dựa đầu nhau, đặt 2 ngón trỏ trên lóng thứ ba của 2 ngón giữa, kèm dựng thẳng 2 ngón cái, đưa đầu ngón qua lại.
     Chân Ngôn là Đại Thân Chú còn gọi là Thiện Nữ Thiên Chú:
        - NAMO BUDDHÀYA. NAMO DHARMÀYA. NAMO  SANÕGHÀYA. NAMO  ‘SRÌ MAHÀ  DEVÀYA.
         TADYATHÀ: PARIPÙRNA  CALE,  SAMANTA  DAR’SANI,  MAHÀ VIHARA  GATE,  SAMANTA  VIDHÀNA  GATE,  MAHÀ  KÀRYA PATI, SUPARIPÙRE SARVATHÀ SAMANTA  SUPRATI  PÙRNA, AYANA  DHARMATE, MAHÀ VIBHASITE, MAHÀ  MAITRE, UPASAMHITE. HE ! TITHU,SAMGRHITE, SAMANTA  ARTHA  ANUPALANI.
( Bài Chú trên có thể diễn dịch là :
         Quy y Phật. Quy Y Pháp. Quy Y Tăng.
         Quy Y Đại Thiên Kiết  Tường.
         Như vậy : Hỡi Đấng Quyền Năng hay ban bố sự viên mãn thù thắng! Đấng Chủ Tể Đại Tác Nghiệp hay nhìn thấy khắp cả nẻo phân ly rộng lớn và nẻo kết hợp rộng lớn.
         Hãy khéo léo làm cho tất cả mọi nơi đều được đầy đủ.          Hãy khiến cho khắp tất cả mọi nơi đều được sự viên mãn thù thắng tối thượng. Hãy thể hiện lòng Đại Từ làm cho Lý Thú Pháp Tánh phóng tỏa ánh sáng màu nhiệm rộng lớn khiến cho con và chúng sanh được thích ứng với sự lợi ích chân chính.
         Mừng thay Đấng biểu hiện của lòng yêu thương! Đấng chân chính gìn giữ sự lợi ích. Hãy giúp cho con và chúng sinh đều gìn giữ được khắp mọi tài sản lợi ích )
         Kinh này còn ghi chú là: SvàhàØ nghĩa là tán khứ. Vì Chú này cầu tài vật nên không có Svàhà, bởi lẽ điều này chẳng dính với Svàhà.
         Ngoài các Ấn Chú trên, Kinh Điển còn ghi nhận thêm một vài Chân Ngôn của Thiên nữ  Kiết Tường là:
            . Tiểu Chú thường dùng là (Kết Ấn Bát Diệp) :
         - Om- Mahà ‘Srìyaye Svàhà. (Quy mạng Đại Kiết Tường Đẳng, viên mãn tốt lành). Có lúc dùng câu: Alaksmi Nà'saya. (Tiêu trừ điều chẳng tốt lành).
         - Kinh Thập Nhất Diện Kinh ghi Nhất Thiết Kiết Tường Tâm Chân Ngôn là:
         - NAMO ‘SRÌYAYE. OM  KILI, MILI, NÌYE SVÀHA.Ø
         (Quy mệnh Kiết Tường Đẳng. Hãy nắm chặt, ngăn chận, ra lệnh khiến cho mọi viên mãn tốt lành).
         - Thành Tựu Viện truyền miệng  câu Chú là:
         - OM- ‘SRÌ DEVAPUTRA SYA,‘SÀNTI  KURU,SVÀHÀ
         (Quy mệnh Kiết Tường Thiên Tử  Đẳng. Hãy tạo dựng sự an bình vắng lặng khiến cho viên mãn tốt lành).
         - Thánh Hiền ghi là: Lúc tu Pháp có thể dùng Ấn: Chắp 2 tay lại giữa rỗng, đưa 2 ngón cái vào trong lòng bàn tay, co 2 ngón vô danh, đặt 2 ngón cái trên móng 2 ngón vô danh liền thành. Chân Ngôn là:
         - NAMO RATNATRAYÀYA, TADYATHÀ: BHADRA  ‘SRÌ KATO ‘SRÌ AMRTA ‘SRÌ NÀGA ‘SRÌ LOKA ‘SRÌ RÀJA ‘SRÌ ‘SUBHA ‘SRÌ VIMALA ‘SRÌ VAJRA ‘SRÌ  RANAM ‘SRÌ PADMA ‘SRÌ BRAHMAM ‘SRÌ ATUBHARA  ‘SRÌ MAHÀ ‘SRÌ  JNÕÀNA ‘SRÌ  SVÀHA.Ø
         (Quy y Tam Bảo. Như vậy: Hiền Kiết Tường, Thiên Thần Tối Thượng Kiết Tường, Cam Lộ Kiết Tường, Long Kiết Tường, Thế Giới Kiết Tường, Vương Kiết Tường, Hoan Hỷ Kiết Tường, Ly Cấu Kiết Tường, Kim Cang Kiết Tường, Chiến Đấu Kiết Tường, Liên Hoa Kiết Tường, Phạm Hạnh Kiết Tường, Trọng Đảm Kiết Tường, Đại Kiết Tường, Trí Kiết Tường, xin đều viên mãn thành tựu).
  * Hành Pháp:
         Dùng Thiên Nữ này làm Bổn Tôn để tu Pháp Sám hối các tội lỗi thì gọi là Pháp Thiên Nữ Kiết Tường hay Pháp Sám Hối Kiết Tường. Man Đà La sử dụng để tu Pháp này gọi là Man Đà La Kiết Tường Thiên..
        - Tập Kinh ghi: Nếu muốn tác Pháp thì chọn ngày mồng 3, mồng 7 tháng Giêng. Nên dùng tháng này để vào Đàn, ắt Thiên Nữ vui vẻ.Tháng khác thì chẳng được. Lại nói từ mồng 8 cho đến ngày 14 trong tháng, dùng đất bùn sạch tốt làm Thủy Đàn rộng 4 khuỷu tay.
         - Pháp Công Đức Thiên ghi là: Dùng gỗ cây mới đốn làm hình Thiên Nữ, thân dài một thốn. Chú Sư từ ngày mồng một tháng Giêng rưới vảy tắm.Nên ở trước Tượng bày biện mọi thứ cúng dường, mỗi ngày đặt thêm bên trên vật cúng quí tốt. Như vậy đến ngày 15 sẽ mãn túc ước muốn, người cầu đều vừa ý.
         - Pháp Niệm Tụng Thiên Nữ Công Đức ghi: Dùng gỗ đẹp làm hình tượng Thiên Nữ, tay trái cầm Bảo Châu, tay phải tác Dữ Nguyện Ấn, thân màu trắng như thiếu nữ 15 tuổi. Dùng mọi thứ áo khoác (Thiên Y) vi diệu trang nghiêm. Hiện hình Thiên Nữ cho nên chẳng mặc Pháp Y (Áo Pháp), dùng Thiên Y quấn thân. Bên trái vẽ Thiên Nữ Diệu Kiến, tay trái nâng Bảo Châu, tay phải tác Thí Vô Úy. Bên phải vẽ Thiên Nữ Công Đức, tay trái ôm cái bát đầy hoa, chưởng phải hướng ra ngoài. Lại bên trái vẽ Thiên Nữ Biện Tài, taytrái cầm cây Tam Kích, tay phải cầm cây kiếm bén. Bên phải vẽ Thiên Nữ Đại Quang, tay trái cầm mặt trời, tay phải kết Ấn Dữ Nguyện. Lại tiếp 4 phương vẽ 4 Vị Thiên Vương có binh lính và vô lượng quyến thuộc vây quanh
         - Thành Tựu Viện ghi là: Thoạt tiên quán chữ AH (      ) phóng tỏa ánh sáng lớn, biến đại địa thành lưu ly, chung quanh có suối chảy ao hồ. Trung ương có chữ ÀH (       ) biến thành cung điện báu, ở giữa cung điện có cái Đàn, trên Đàn có Đài sen nở. Trên Đài sen có chữ ‘SRÌ  biến thành Như Ý Bảo Châu. Bảo Châu biến thành Thiên Nữ Kiết Tường, đầu đội mão Ma Ni, diện mạo đoan chánh kỳ diệu, tay trái cầm Như Ý Bảo, tay phải kết Thí Nguyện Ấn, sau lưng có hào quang tròn, ngồi trên hoa sen hồng. Phạm Vương, Đế Thích, bốn Đại Thiên Vương với vô lượng quyến thuộc vây quanh.
         Căn Bản Ấn là Ấn Bát Diệp. Chân Ngôn là:
         - OM-  MAHÀ  ‘SRÌYAYE  SVÀHA.Ø
         Sau khi tụng niệm thì niệm Kinh Đại Kiết Tường và 12 Danh Hiệu.
         Kết Ấn Nội Phược Tam Cổ, tụng Chân Ngôn:
        -TADYATHÀ:‘SRÌNI ‘SRÌNI, SARVA KARYA SÀDHANI, SINI SINI, NI NI NI NI, ALAKSMI NÀ’SAYA  SVÀHA.Ø
         Lại tụng Chân Ngôn:
         - OM- ‘SRÌ DEVAPUTRASYA,‘SÀNTI KURU  SVÀHÀ.
         - Lược Đạo Trường Quán : Kết Địa Giới, bên trên kết Kim Cang Tường, bên trong có biển lớn chứa nước  8 công đức. Chính giữa có núi Tu Di Vương do 4 báu trang nghiêm. Giữa lưng Núi có cung điện, ở giữa có Diệu Đàn. Giữa Đàn có tòa sen nở. Trên Tòa có vành trăng, giữa vành trăng có chữ ‘SRÌ (       ) , chữ ‘SRÌ biến thành Như Ý Bảo Châu, Bảo Châu biến thành Thiên Nữ Kiết Tường có tướng tốt đẹp viên mãn, vi diệu trang nghiêm, tay trái cầm Như ÝBảo Châu, tay phải kết Ấn Thí Nguyện, đỉnh đầu và lưng có hào quang tròn,  quyến thuộc vây quanh.
         Ngoài ra còn có nhiều nghi thức tu trì khác như: Kiết Tường Thiên Nữ Cúng Dường Thứ Đệ, Nhập Ngã Ngã Nhập, Quán Tưởng Trì niệm, Hộ Ma, Cát Tường Đa Văn Đồng Thể Quán...
         Theo truyền thống Mật Giáo, thì Thiên Nữ Kiếùt Tường còn có người em gái tên là Hắc Nhĩ. Hai chị em cùng đi chung với nhau chẳng rời. Chị tên Kiết Tường, đi đến đâu đều đem lợi ích đến đó. Em tên Hắc Nhĩ, do có lỗ tai màu đen mà có tên, xưa dịch là Hắc ám, đi đến đâu đều gây nên sự tổn hoại. Do đó hai chị em ( Công Đức Thiên, Hắc Ám Nữ ) biểu thị cho nghĩa Phước Họa Tương Tùy. Chính vì lý do này mà tín ngưỡng Thiên Nữ Kiết Tường ngày càng giảm dần. Sau này , tại Nhật Bản rất tôn phụng Thiên Nữ Biện Tài là Nữ Thần tăng ích phước đức thay cho Thiên Nữ Kiết Tường.
         - Thầy truyền rằng: Lúc cúng Kiết Tường Thiên thì nên cúng cả Thần này( Hắc Nhĩ ). Các việc như chuẩn mực, 7 ngày chia làm 3 lần. Hoặc trước sau chỉ có 7 ngày. Có điều nhà thất của Hắc Ám, nếu hành ở nơi rừng Trúc thì đừng đốt lửa.
         Hắc Nhĩ có chủng tử là KA (       ), Tam hình là chày Độc Cổ. Ấn là Phổ Ấn.Chân Ngôn là:
         - OM- KÀLA ‘SRÌ  SVÀHÀ.
           (Quy mệnh Hắc Thiên Kiếùt Tường, thành tựu tốt lành)
         - Thứ tự Pháp Thí: Tâm Kinh (3 quyển). Kim Cang Bát Nhã Kệ. Quang Minh Chân Ngôn. Phát Tâm Bồ Đề (100 biến). Tam Muội Gia Giới (100 biến).Bản Tôn Chú (100 hoặc 1000 biến).
         - Khẩu truyền là: Dùng Tùy Cầu Đà La Ni. Vì Hắc Nhĩ là Hộ Pháp  của Tùy Cầu  cho nên tụng Tùy Cầu Chú, Hắc Nhĩ sẽ chẳng gây chướng ngại.
         - Pháp Kiết Tường Thiên: Lúc Tán Niệm Tụng thì tụng Tùy Cầu Chân Ngôn 108 biến. Có Kinh ghi là: Tùy Cầu Pháp giải thoát Hắc Nhĩ .
         Kinh Tùy Cầu Đà La Ni ghi là: Người thọ trì Tùy Cầu Kim Cang Bí Mật Chủ, thì Hộ Thế Tứ Thiên Vương, Cam Lộ Quân Trà Lợi, Vô Năng Thắng Minh Phi, Hắc Nhĩ, Kiết Tường Nữ.. Do trì Mật Ngôn này, ngày đêm thường tùy toại (Theo sát làm cho vừa ý), hay mãn  các Nguyện khác.
         Đại Tùy Cầu Tùy Tâm Chân Ngôn là:
         - OM- BHARA BHARA, SAMBHARA SAMBHARA, INDRIYA VI’SODHANI, HÙM HÙM,RURU  CALE, SVÀHÀ
          (Hãy giúp đỡ đảm nhận, chân chánh giúp đỡ đảm nhận, tĩnh trừ các căn, khủng bố và quấy động Nội trần với Ngoại Trần khiến cho viên mãn kiết tường)

Ngày 16 /10/ 1999


        










MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ  34

PHẬT THUYẾT KINH ĐẠI KIẾT TƯỜNG THIÊN NỮ
THẬP NHỊ DANH HIỆU

         Mật Tạng Bộ 4 . No 1252  (Tr 252  )

Chùa Đại Hưng Thiện, Tam Tạng Sa môn Đại Quảng Trí  Bất Không phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn
                   Việt dịch : Huyền Thanh

         Như vậy tôi nghe: Một thời Đức Bạc Già Phạm ngự ở Thế giới An Lạc ( ‘Sukhavati).  Bấy giờ Bồ tát Ma-ha-tát Quán Tự Tại đi đến nơi Phật ngự, cúi lậy sát dưới chân Đức Phật rồi ngồi sang một bên.
         Lúc đó, Bồ tát Ma-ha-tát Bồ Tát Ma Ha Tát Đại Kiết Tường Thiên Nữ cũng đến nơi Phật ngự, cúi đầu lễ dưới chân Đức Phật rồi ngồi sang một bên.
         Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn đem sự lợi ích cho các hữu tình có phước mỏng, nghèo túng, nhìn thấy Thiên Nữ Kiết Tường, liền nói với Bồ Tát Ma Ha Tát Quán Tự Tại rằng: "Nếu có Bật- sô, Bật-sô-ni, Cận sự nam, Cận sự nữ cùng với các loại hữu tình biết được 12 Danh hiệu của Thiên Nữ Đại Kiết Tường này mà hay thọ trì, đọc tụng, tu tập, cúng dường, diễn nói cho người khác nghe thì hay từ bỏ tất cả nghiệp chướng nghèo túng, hưởng được sự phú quý, tài bảo dư thừa”.
         Bấy giờ, tất cả Tám Bộ, Trời, Rồng trong hội đều khác miệng cùng lời nói rằng: "Như lời nói chân thật không hư dối của Đức Thế Tôn, chúng con nguyện nghe 12 Danh hiệu. Nguyện xin Đức Thế Tôn từ bi diễn nói".
         Đức Phật bảo : "Các ngươi hãy lắng nghe! Nay Ta sẽ vì các ngươi mà nói. Đó là :
              1- Kiết Khánh                       2- Kiết Tường
              3- Liên Hoa                           4- Nghiêm Sức
              5- Cụ Tài                               6- Bạch Sắc
              7- Đại Danh Xưng                8- Đại Quang Diệu
              9- Thí Thực Giả                  10- Thí Ẩm Giả
            11- Bảo Quang                     12- Đại Kiết
         Các ngươi nên thọ trì 12 Danh Hiệu này. Nay Ta lại nói  Chân Ngôn Kiết Tường là:
         - Đát nễ-dã tha: Thất-lị ni, thất-lị ni. Tát phạ ca lị dã, bà đà nãnh. Tất nãnh, tất nãnh. Nãnh nãnh nãnh nãnh. A lạc khất sử mính, nẵng xả dã, sa phạ hạ.
         ( TADYATHÀ: ‘SRÌNI ‘SRÌNI SARVA KÀRYA SÀDHANI  SINI SINI NI NI NI NI ALAKSMI NÀ’SAYA  SVÀHA Ø).
         Khi Đức Thế Tôn nói Đà la ni này xong, liền bảo Bồ tát Quán Tự  Tại rằng:
         " Đà La Ni Đại Kiết Tường với 12 Danh hiệu này hay trừ sự nghèo túng, tất cả mọi việc chẳng lành, bao nhiêu sự nguyện cầu đều được viên mãn. Nếu có thể ngày đêm 3 thời đọc tụng kinh này, mỗi thời 3 biến hoặc thường thọ trì chẳng gián đoạn, tác tâm nhiêu ích, tùy khả năng chân thành cúng dường bồ tát Đại Kiết Tường Thiên Nữ thì mau được tất cả tài bảo, sung túc, an vui, kiết tường" .
         Thời Bồ tát Ma-ha-tát Quán Tự Tại với các đại chúng, 8 Bộ Trời Rồng nghe Đức Phật nói 12 Danh hiệu với Chân Ngôn, liền ngợi khen rằng: "Thật chưa từng có ! " và hết thảy đều mừng rỡ, tin nhận phụng lành .

                     Ngày 01/ 09/ 1999 .







 



PHẬT THUYẾT KINH ĐẠI KIẾT TƯỜNG THIÊN NỮ

THẬP NHỊ DANH HIỆU

Mật Tạng Bộ 4  No.1252 Bis (Tr.252 - Tr.253)

Đời nhà Đường, Tam Tạng Sa môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng chiếu dịch Phạn ra Hán Văn.
Việt dịch :  Huyền Thanh

         Như vậy tôi nghe, một thời Đức Bạc Già Phạm ngự ở Thế Giới Cực Lạc (‘SUKHAVATI ) cùng với vô lượng chúng Đại Bồ Tát trước sau vây quanh nghe Đức Phật nói Pháp.
         Lúc bấy giờ, Bồ Tát Ma Ha Tát Quán Tự Tại, Bồ Tát Ma ha tát Đại Kiết Tường Thiên Nữ (Mahà 'Sridevi bodhisatvàya  màha  satvàya) đều từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi lậy dưới chân Đức Thế Tôn, rồi ngồi sang một bên.
         Khi đó, Đức Thế Tôn muốn đem lại sự lợi ích cho các hữu tình có phước mỏng, nghèo túng, nên nói với Bồ Tát Ma Ha Tát Quán Tự Tại rằng: "Này Thiện Nam Tử ! Nếu có Bật sô, Bật sô ni, Cận Sự nam, Cận Sự nữ... nếu các loài hữu tình biết được 12 Danh Hiệu của Thiên Nữ Đại Kiết Tường này mà hay thọ trì, đọc tụng, tu tập, cúng dường hoặc diễn nói cho người khác nghe thì hay từ bỏ tất cả sự nghèo túng cùng các tội chướng và hưởng được sự giàu có lớn, tài bảo sung túc.
         Lúc đó Tám Bộ, Trời, Rồng trong Hội đều khác miệng cùng lời nói rằng: "Như lời nói chân thật không hư dối của Đức Thế Tôn, chúng con nguyện nghe 12 Danh Hiệu. Xin Đức Thế Tôn đại bi diễn nói".
         Đức Phật nói rằng: "Các ngươi hãy lắng nghe! Nay Ta diễn nói về 12 Danh Hiệu, các ngươi nên thọ trì. Đó là:
   1- Kiết Khánh (Laksmi)  2- Kiết Tường Liên Hoa (‘Srì  Padme)
   3- Nghiêm Sức ( Vasìni) 4- Cụ Tài (Dhànàdhipati)
   5- Bạch Sắc (Gauri)        6- Đại Danh Xưng (Mahà Yasa)
   7- Liên Hoa Nhãn (Padma Netre)
   8- Đại Quang Diệu (Mahà Jyoti)
   9- Thí Thực Giả            
 10- Thí Aåm Giả  
 11- Bảo Quang (Ratna Prabha)
 12- Đại Kiết Tường (Mahà 'Srì)
         Nay Ta lại nói Đại Cát Tường Đà La Ni là:
         - Đát nễ-dã tha: Thất-lị ni  Thất-lị ni, Tát phạ ca lị-dã,Sa đà nĩnh,Tất nĩnh,Tất nĩnh, A lạc khất-sử, nẵng xả dã, sa-phạ hạ.
         (TADYATHÀ : ‘SRÌNI ‘SRÌNI SARVA KÀRYA  SÀDHANI  SINI  SINI ALAKSMI  NÀ’SAYA  SVÀHÀ )
         Khi Đức Thế Tôn nói Đà La Ni này xong, liền bảo Bồ Tát Quán Tự Tại rằng: "Đại Kiết Tường Đà La Ni với 12 Danh Hiệu này hay trừ sự nghèo túng cùng tất cả mọi việc chẳng lành, bao nhiêu điều nguyện cầu đều được đầy đủ. Nếu có thể ngày đêm 3 thời đọc tụng Kinh này, mỗi thời 3 biến hoặc thường thọ trì chẳng gián đoạn, tác tâm nhiêu ích, tùy khả năng cúng dường Bồ Tát Đại Kiết Tường Thiên Nữ, sẽ mau được tất cả tài bảo, sự giàu có, tốt lành, an vui".
         Thời Bồ Tát Ma Ha Tát Quán Tự Tại cùng với các Đại Chúng, Tám Bộ Trời Rồng nghe Đức Phật nói lời ca ngợi 12 Danh Hiệu với Đà La Ni, thảy đều vui vẻ, tin nhận phụng hành.

                  Ngày 29 /09/ 1999

BÍ MẬT 7 LUÂN XA TRÊN CƠ THỂ CON NGƯỜI THEO YOGA ẤN ĐỘ

Ý NGHĨA CỦA 7 LUÂN XA THEO YOGA ẤN ĐỘ.

Ý nghĩa của 7 Luân xa theo Yoga Ấn Độ.

(Seven Chakras in body)

Hệ thống cơ thể vi tế:


Luân xa

Trong Ấn Độ giáo và một số nền văn hóa châu Á, một chakra (Devanagari: चक्र) được cho là một nexus của năng lượng tâm linh hay/và sinh lý ẩn trong cơ thể con người. Luân xa tiếng Phạn là chakra, nghĩa là bánh xe hay vòng tròn xoay quanh trục của nó. Luân xa là những nhà máy thâu và phát năng lượng (centrale d’énergie). Trong Yoga của Ấn Ðộ Giáo nói chung có bốn loại:

ẢNH MINH HỌA

 1. KARMA Yoga. 2. Bhakti Yoga. 3. Jnana Yoga. 4. Raja Yoga.

Yoga có nghĩa là trở về hợp nhất với một đối tượng.

Trong Ấn Giáo, hành giả Yogi tìm sự hợp nhất với Brahma (Phạm thiên) hay Thượng Ðế. Trong Karma Yoga, hành giả làm tất cả hành động bất vụ lợi, đây là con đường của phục vụ và xả thí nhằm trừ bỏ tiểu ngã hay phàm ngã để trở về với Ðại ngã hay Chân ngã.

Trong Bhakti Yoga, hành giả hướng hết tâm trí về Thượng Ðế qua sự sùng kính lễ bái, tụng niệm kinh chú. Qua sự tín tâm như vậy họ mong nhập một với Thượng Ðế. (ảnh bên : Vị trí hệ thống 7 luân xa)

Trong Jnana Yoga, hành giả tìm sự giải thoát qua trí huệ, qua sự nghiên cứ kinh điển Veda, suy tư quán chiếu về tự tánh.

Trong Raja Yoga, hành giả tập làm chủ cả thân và tâm qua sự tu tập tám bộ môn hay tám nhánh: yama, niyama, asana, pranayama, pratyahara, dharana, dhyana và samadhi.

Ngày nay ở Âu Châu, người ta hay tập Hatha Yoga, môn này là một phần nhỏ của Raja Yoga, nó bao gồm hai nhánh: Asana là những tư thế luyện thân và Pranayama là phép luyện Hơi Thở để thanh lọc các đường Kinh (nadi) để bảo vệ sức khỏe, trong đó có ba kinh quan trọng (đã nói ở trước).

¥. Trong Phật Giáo cũng chia hành giả làm ba loại:

1. Trí huệ Bồ Tát (pannadhika, pali). Vị này chú trọng phát triển trí huệ và thực hành thiền định nhiều hơn là nhiệt thành với những hình thức lễ bái cúng dường bề ngoài. 2. Tín đức Bồ Tát (saddhadhika). Vị này đặt trọn niềm tin nơi hiệu lực của tâm thành.

Tất cả những hình thức lễ bái thờ phượng là sở trường của ngài. 3. Tinh tấn Bồ Tát (Viriyadhika). Vị này luôn luôn tìm cơ hội để phục vụ kẻ khác. Không có gì làm cho Tinh tấn Bồ Tát hoan hỷ bằng tích cực phục vụ. Ðối với ngài, làm việc là hạnh phúc, hạnh phúc là làm việc.

Qua hai sự xếp loại trên, ta thấy có sự tương đồng giữa:

* Trí huệ Bồ Tát và hành giả Jnana (Jnana Yogi)

* Tín đức Bồ Tát và hành giả Bhakti (Bhakti Yogi)

* Tinh tấn Bồ Tát và hành giả Karma (Karma Yogi).

Có nhiều Phật tử quan niệm rằng Yoga là ngoại đạo, không nên pha lẫn với Phật Giáo. Theo tôi Yoga là một môn khoa học như toán, lý hóa, điện tử, v. v. . . nó không phải là một tôn giáo, không phải là sở hữu của Ấn Giáo, ai cũng có thể tập được hết.

Võ Thiếu Lâm đức Phật đâu có dạy, sao các Sư chùa Thiếu Lâm lại tập?

Máy vi tính đâu phải là phát minh của Phật Giáo, sao ngày nay chùa viện nào ở Âu Mỹ cũng dùng?

Trong Anuttara-Yoga-Tantra của Mật Giáo Tây Tạng cũng nói nhiều về ba kinh (Sushumna, Ida, Pingala) và luân xa (chakras), nhưng chỉ đề cập tới bốn thay vì bảy luân xa.

Xin kể sơ lược về bảy luân xa, sau này nếu có dịp tôi sẽ viết nhiều hơn về chi tiết.Có bảy luân xa chính nằm dọc theo đường kinh trung ương Sushumna từ dưới xương cùng lên tới đỉnh đầu.


Khu vực màu năng lượng trên cơ thể

1. LUÂN XA THỨ NHẤT 

Muladhara chakra (sanskrit). Vị trí nằm giữa hậu môn và bộ phận sinh dục, tương đương với huyệt Hội Âm của châm cứu học. Nó được biểu hiện bằng một bông sen bốn cánh màu đỏ, chủng tự tiếng sanskrit của nó là LAM. Luồng hỏa hầu Kundalini nằm phục ở đây.

Hành giả Yogi khi thành tựu phép quán tưởng luân xa này, sẽ làm chủ được địa đại, tiêu trừ nghiệp quá khứ, biết được ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai, thọ hưởng niềm hoan lạc tự nhiên.

2. Luân xa thứ Hai:

Svadhisthana chakra. 

Vị trí nằm dưới rốn chừng bốn ngón tay, tương đương với huyệt Quan nguyên, biểu hiện bằng bông sen sáu cánh màu cam, chủng tự là VAM. Thành tựu phép quán tưởng luân xa này sẽ làm chủ được thủy đại và các giác quan, biết được cảnh Trung giới (monde astral).

Tham ái, giận hờn, ngã mạn, ganh tỵ và các phiền não khác đều được tiêu trừ. Vượt thoát tử thần.

3. Luân xa thứ Ba:

MANIPURA CHAKRA. Vị trí ở giữa rốn và xương ức (sternum), tương đương với huyệt Trung quản. Biểu hiện bằng bông sen mười cánh màu vàng, chủng tự là RAM. Người Yogi thành tựu phép quán luân xa này sẽ làm chủ hỏa đại, không còn sợ lửa thiêu đốt, hoàn toàn thoát khỏi bệnh tật.

4. Luân xa thứ Tư:

Anahata chakra. Vị trí ở giữa ngực, tươngđương với huyệt Ðản trung. Biểu hiện bằng bông sen mười hai cánh màu xanh lá cây, chủng tự là YAM. Thành tựu phép quán tưởng luân xa này, làm chủ phong đại, tùy ý bay lượn trong không gian hoặc chui nhập vào thân người khác, đầy đủ đức tính của chư thiên và tình thương vũ trụ.

5. Luân xa thứ Năm:

Visuddha chakra. Vị trí ở ngay dưới cổ, tương đương với huyệt Thiên đột. Biểu hiện bằng bông sen mười sáu cánh màu xanh da trời. Chủng tự là HAM. Thành tựu phép quán tưởng luân xa này sẽ làm chủ không đại, thân thể không bao giờ tàn hoại, ngay cả khi thế gian bị tiêu diệt, đạt được trí huệ thông suốt bốn kinh Veda và ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai.

6. Luân xa thứ Sáu:

Ajna chakra. Vị trí ở giữa hai chân mày nơi mà huyền môn thường gọi là con mắt thứ ba, tương đương với huyệt Ấn đường. Biểu hiện là bông sen hai cánh màu xanh nước biển, chủng tự là A. Thành tựu phép quán luân xa này, người Yogi tận trừ nghiệp quá khứ, trở thành người hoàn toàn giải thoát ngay trong hiện đời, đạt được tám phép thần thông (siddhi) và ba mươi hai phép phụ.

7. Luân xa thứ Bảy:

Sahasrara chakra. Vị trí ngay trên đỉnh đầu, tương đương với huyệt Bách hội. Biểu hiện bằng bông sen ngàn cánh màu tím, trắng, vàng. Chủng tự là OM. Khi luồng hoả hầu Kundalini chạy lên tới đây, hành giả Yogi nhập một với Thượng Ðế, trở thành một bậc giác ngộ giải thoát hoàn toàn.

Thâu hút năng lượng trong vũ trụ thiên nhiên rồi phát ra nuôi dưỡng các thân (thô và tế). Nơi người khỏe mạnh bình thường, bảy luân xa này đều hoạt động đúng mức, không nhanh không chậm, không nghẽn tắc.

Nhưng khi bị xúc động mạnh về tình cảm hoặc uất ức đè nén cảm xúc, hoặc bị tai nạn xúc chạm mạnh nơi thân thì các luân xa có thể bị tổn thương, hoạt động bất thường, chiều quay lệch lạc.

Từ đó cơ thể mất dần năng lượng, Ðông-Y gọi giai đoạn này là khí huyết không thông.

Ta có thể đi châm cứu, uống thuốc bổ, nhưng đó chỉ là cách gỡ gạc một phần nào thôi, vì nó không thể tái lập quân bình hoàn toàn được, vì vết thương nằm sâu nơi luân xa.

Lý thuyết Âm Dương, ngũ hành, kinh mạch của Ðông-Y đã được du nhập Phật Giáo, trong giới Tăng sĩ đã có những danh y như Tuệ Tĩnh thiền sư (thế kỷ 14) và gần đây là Thượng Tọa Thích Tâm Ấn.

Tăng Ni cũng có những người đi học châm cứu để cứu nhân độ thế, thực hiện lý tưởng từ bi của Bồ Tát. Nay nếu biết được lý thuyết của luân xa, chúng ta có thêm khí cụ và phương tiện cứu nhân độ thế hữu hiệu hơn nữa.

 ¥. CHỨC NĂNG LUÂN XA TRÊN CƠ THỂ CON NGƯỜI 

* Luân xa thứ Nhất: Muladhara, chủ trì năng lượng sinh tồn (énergie vitale), nói tắt là sinh lực, ý chí vui sống.

Người tu mà có tâm niệm chán đời thì vô tình làm luân xa này quay chậm lại hoặc tệ hơn nữa là quay ngược chiều khiến sinh lực ngày một thất thoát, cơ thể suy nhược, dễ sinh bệnh hoạn, và từ đó tâm hồn lại càng chán đời thêm. Tu hành như vậy có khác gì tự sát.

* Luân xa thứ Hai: Svadhisthana, chủ trì năng lượng tính dục (énergie sexuelle) có tính cách sáng tạo. Ða số thường quan niệm tu là phải diệt dục, vì dục là ham muốn. Người tu không được ham muốn gì hết!

Vậy quý Thầy tu có muốn chùa to tượng lớn không? Có thích đông Phật tử lui tới cúng dường không? Khỏi nói chi xa, người tu có muốn giải thoát không? Có muốn thành Phật không? Muốn Niết Bàn không?

Vậy những cái “muốn” đó có phải là dục không? Khi đói muốn ăn, khát muốn uống thì đó có phải là dục không?

Nếu đó là dục cần phải diệt thì chắc Thầy tu phải nhịn ăn, nhịn uống, nhịn luôn cả thở để chết đi cho rồi! Sự ham muốn (dục) tự nó không có hại, không có tội.

Hại hay không là tùy đối tượng của ham muốn. Ham muốn thể xác gọi là nhục dục, ham muốn sắc đẹp là sắc dục, ham muốn rượu chè là tửu dục, ham muốn những thứ này thường đưa đến khổ đau vì thèm khát mà không toại nguyện.

Muốn tu gọi là tu dục, muốn giải thoát gọi là giải thoát dục, muốn Niết Bàn là Niết Bàn dục, những thứ dục này đâu có hại! Nhưng đa số vẫn cứ nghĩ dục là một điều xấu. Dục là một chất liệu, một năng lực thúc đẩy mình đạt đến đối tượng hay mục đích.

Nếu không “muốn” giải thoát thì làm sao tu được?

Vì “muốn” sự an vui hạnh phúc của Niết Bàn, “muốn” thoát khổ luân hồi nên mới tìm Ðạo giải thoát!Luân xa thứ hai liên quan đến hiện tượng sinh lý, nam tính và nữ tính. Là người ai mà chả có tình dục, trừ khi bạn đã chứng A La Hán.

Vào tuổi dậy thì cho đến khoảng bốn mươi tuổi, luân xa này giúp cho tuyến sinh dục (glande sexuelle) hoạt động để con người tiếp nối giòng dõi.

Người tu không có vợ chồng, lại thêm đè nén, dằn ép tình dục, không biết cách chuyển hóa thường khiến cho luân xa này bế tắc, từ đó dễ sinh bệnh, nhất là những bệnh về tử cung.

Có lần đọc báo thấy trong một giòng nữ tu Cơ Ðốc ở Mỹ, các bà Sơ được bơi lội trong một hồ tắm.

Tôi nghĩ đó là một phương tiện lành mạnh giúp cho những năng lượng tính dục sung mãn có cơ hội thoát tiết, hườn Tinh hoá Khí mà không cần phải qua con đường tình ái hay nhục dục. (Xin xem thêm bài : Những Bí Thuât “Hườn Tinh Bổ Não”, nội dung là chuyền Tinh thành Khí, thành năng lượng để tái nạp vào não bộ )

* Luân xa thứ Ba: Manipura, chủ trì sự liên quan giữa cá nhân và môi trường xung quanh.

Khi cá nhân sống hòa thuận với môi trường xung quanh, biết bày tỏ tình cảm, không đè nén cảm xúc thì luân xa này quay bình thường.

Nhưng khi bị ăn hiếp mà không chống trả được, phải cố nhịn dằn sự nóng giận, khi thấy điều bất công mà không nói lên được, khi lo lắng mà không dám biểu lộ ra mặt, v. v. . .

Nói chung tất cả cảm xúc không thoát được ra ngoài mà bị giữ lại ở trong sẽ làm luân xa này bị bệnh, quay chậm lại hoặc không quay hoặc quay ngược chiều.

Ở chùa các Sư Cô hay bị đau bao tử vì lo lắng mà không giải quyết được, đau gan hay túi mật vì giận mà không nói ra được, đau lưng hay thận vì bị xài xể nhiều mà không dám cưỡng lại, đau quặn ruột vì sợ hãi mà không dám cầu cứu, v. v. . .

Nói chung tất cả triệu chứng vùng bụng đều là dấu hiệu không biết đối phó cảm xúc với môi trường xung quanh.

* Luân xa thứ Tư: Anahata, là trung tâm của tình thương, nó liên quan và ảnh hưởng mật thiết với quả tim.

Ở đời, là con người (hữu tình) ai cũng muốn thương và được thương, muốn yêu và được yêu, nhưng hoàn cảnh đâu dễ dàng như ý được. Mình thương người kia nhưng người kia không thương lại, thế là lòng tự ái bị tổn thương, trở nên dè dặt không dám thương ai nữa, sợ tình thương của mình bị từ khước.

Cứ thế dần dần quả tim khép lại, không được tưới tẩm bởi tình thương làm cho luân xa này bế tắc. Khi luân xa này bế tắc, vùng tim không tiếp nhận được sinh khí (énergie vitale), đó là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh vùng ngực như nghẹt tim, ung thư tim, ung thư vú, hen suyễn, v. v. . .

Bệnh tiểu đường cũng là bệnh thuộc loại tâm thể (psychosomatique) mặc dù một số bác sĩ cho đó là bệnh di truyền.

Theo nhà tâm lý học Thorwald Dethlefsen (ảnh bên), đường và những chất ngọt biểu hiệu cho tình yêu và lòng trìu mến. Con nít nào mà chả cần tình thương của cha mẹ, con nít nào mà chả thích ăn kẹo ngọt.

Ngay cả người lớn cũng hảo ngọt, chỉ thích được nịnh khen chứ không ưa lời nặng.

Theo Y khoa hiện đại, bệnh tiểu đường là do cơ thể thiếu chất insuline, nên họ chích chất này vào bệnh nhân để điều hoà chất đường trong người. Hiện tượng đơn giản của bệnh này là cơ thể không hấp thụ được chất đường để cho nó thất thoát ra ngoài qua máu hoặc nước tiểu.

Từ đó Thorwald Dethlefsen suy ra rằng người bệnh tiểu đường là người mất khả năng thương yêu, không biết hấp thụ tình thương.

Người bệnh tiểu đường cũng cần tình thương như ai, nhưng không được đáp ứng lại vì chính anh ta không thể ban rải tình thương hoặc chưa học được cách thương yêu kẻ khác. Ở chùa hình như quý Thầy lớn cũng hay mắc phải bệnh này, có lẽ vì Phật tử nấu đồ ăn cho bột ngọt nhiều quá hoặc quý ngài vô tình đã làm bế tắc luân xa thứ tư (luân xa 4) này.

* Luân xa thứ Năm: Visuddha, là trung tâm của sự giao thiệp, thông tin qua lời nói.

Người biết ăn nói lịch thiệp, rành mạch rõ ràng, đó là dấu hiệu luân xa này khai thông và hoạt động tốt.

Khi luân xa này bế tắc, bệnh hoạn thì đương sự thường có vấn đề trong việc diễn nói về ý kiến, quan niệm hoặc tình cảm của mình như nghẹn ngào, uất ức nói không ra lời, hoặc muốn nói mà khớp hay không đủ lời đủ ý, sợ nói trước đám đông, v. v. . .

Ðây chỉ là đại khái thôi vì còn nhiều yếu tố tâm lý khác nữa. Về bệnh nơi thân thì luân xa này liên quan đến tuyến giáp trạng (glande thyroide), nặng thì có thể bị bứu cổ, nhẹ thì viêm họng hoặc đau cứng cổ. . .

* Luân xa thứ Sáu: Ajna, là trung tâm của ý thức, liên quan đến tuyến niêm dịch (glande pituitaire). Người làm việc tâm trí nhiều thì luân xa này được kích thích, từ đó có khả năng suy tư bén nhạy. Ngược lại khi luân xa này không khai thông thì đương sự cũng không được thông minh sáng suốt, khó phân biệt lẽ phải và lợi hại.

* Luân xa thứ Bảy: Sahasrara, là trung tâm của sự hợp nhất giữa tiểu ngã và Ðại ngã, sự hợp nhất với Thượng Ðế hay sự giác ngộ hoàn toàn. Trong cơ thể nó liên quan đến tuyến tùng quả (glande pinéale), tuyến này vẫn còn mơ hồ đối với giới Y-khoa hiện đại.

Nơi người thường, luân xa này hoạt động rất yếu nhưng không bế tắc. Nó là nhịp cầu nối giữa con người và Thượng Ðế, giữa đời sống vật chất vô thường và đời sống tâm linh vĩnh cửu. Nơi người biết sống cuộc đời tâm linh, luân xa này được kích thích và khai thông từ từ, giúp họ tiến bước nhanh trên đường Ðạo vì tiếp nhận được những ân huệ bên trên truyền rải xuống.

Trên đây chỉ là sơ lược về bảy luân xa chính, trong cơ thể con người còn nhiều luân xa phụ khác ở các khớp tay và chân. Ngoài luân xa, con người còn có hào quang (aura) và bảy thể xác vi tế bao quanh thân tứ đại.

Giáo lý Thông Thiên Học (Théosophie) có nói đến những điều này nhưng trước kia tôi xem Thông Thiên Học như một trường ngoại đạo nên không để ý. Gần đây từ năm 95 tôi có dịp quen biết vài bạn hữu Âu Tây, trong số đó người thấy được hào quang.

Ở Paris có vài nơi chụp hình hào quang qua kỹ thuật của Kirlian và tôi cũng đã tò mò đi chụp thử rồi kiểm chứng lại với bạn hữu. Từ đầu năm 1996 tới nay, qua sự học hỏi và tập luyện nhằm mục đích chữa bệnh cho mình và cho người, tôi đã sờ mó được các luân xa và bốn thể vi tế trên con người.

Riêng hào quang thì tôi chưa thấy được nhưng tôi có quen một anh bạn tên Martin người Canada ở Québec, là một họa sĩ và thợ uốn tóc, anh có khả năng thiên phú thấy được hào quang từ lúc còn nhỏ. Nhờ Martin mà tôi học được nhiều điều cũ lạ.

Tại sao cũ lạ? Cũ là vì giáo lý về luân xa, hào quang tôi đã biết rồi nhưng chưa hề kinh nghiệm được, lạ là vì Martin thấy được và nói cho tôi nghe. Bình thường hào quang của tôi màu vàng cam, khi tôi bắt đầu tụng chú Om Mani Padme Hum thì Martin cho hay là hào quang quanh đầu tôi chuyển thành màu xanh da trời.

Khi tôi tụng một bài chú khác thì hào quang cũng đổi màu. Mỗi khi tôi bắt ấn (mudra) khác nhau thì hào quang quanh tay cũng đổi màu tùy theo ấn thủ. Không những hào quang thay đổi mà luân xa liên quan đến thủ ấn cũng bị ảnh hưởng.

Qua những kinh nghiệm hợp tác với Martin và vài bạn hữu khác, vấn đề luân xa, hào quang, thể xác vi tế đối với tôi không còn là những giáo lý huyền bí hay ngoại đạo nữa mà là một chuyện hiển nhiên như việc tay tôi sờ thấy cái bàn cái ghế vậy. Người tu Mật Tông Việt Nam tụng chú theo kiểu phát âm chữ Hán.

Quý Thầy dạy tụng chú dù phát âm không đúng với tiếng Sanskrit nhưng nếu thành tâm tin tưởng vẫn có hiệu nghiệm. Sự hiệu nghiệm ở đây phần lớn là do lòng tin mà ra. Theo Mantra-Yoga thì sự phát âm đúng theo tiếng Phạn (Sanskrit) rất quan trọng.

Tiếng Phạn, còn gọi là Phạm âm tức ngôn ngữ của Chư Thiên, Phạm Thiên, không phải là âm thanh thường, mỗi chữ đều có hiệu lực rung động riêng.

Khi phát âm trúng, một Mantra (mật chú) có công năng nâng tâm thức lên bình diện cao hơn, vượt khỏi ý thức nhị biên, thể nhập vào những tầng tâm thức vi tế và từ đó tự chứng nghiệm được chân lý tuyệt đối. Ðây là một loại khoa học về âm thanh, mục đích chứng đạt chân lý, phát triển tâm linh, chứ không phải để sai khiến quỷ thần hay những quyền năng như cầu đảo mưa gió.

Mở luân xa và đánh thức con mắt thứ 3♥️👑♥️

                                                          Mở luân xa và đánh thức con mắt thứ 3

Luân xa số 6 hay còn gọi là con mắt thứ bacó khả năng mang lại những năng lực tuyệt vời. Từ đó mà ngày càng có nhiều người muốn học cách đánh thức con mắt thứ ba của chính mình.


Hãy nghĩ về một người biết đọc vầng năng lượng (vầng hào quang) hay ánh sáng năng lượng. Vầng năng lượng thật ra cũng là một lớp thông tin bổ sung bao trùm lên sự vật. Não của bạn có khả năng thu thập thông tin từ những hình ảnh xung quanh ta, nhưng bức tranh mà nó tạo ra cho bạn không chỉ giới hạn ở những gì mắt thường nhìn thấy được. Hãy xem xét những gì bạn thấy được trên trang chữ này khi bạn đang đọc nó. Không phải bạn nhìn thấy những đường nét màu đen. Mà bạn đang nhìn thấy rất nhiều từ ngữ và các khái niệm cùng ý tưởng bao trùm lên toàn bộ câu chữ.


Giờ hãy tưởng tượng bạn đang quan sát một người khác. Bạn không chỉ nhìn thấy người đó đang mặc quần áo gì. Toàn bộ mạng lưới thần kinh của bạn, tâm trí và các cơ quan cảm nhận thiết lập một ăng-ten lớn hơn và nhạy bén hơn để phát hiện ra năng lượng và những hình mẫu hoặc quy luật trước mặt bạn. Bạn sẽ tìm được rất nhiều gợi ý về đối phương như trạng thái cảm xúc, sức khỏe, độ tập trung và nhiều nhân tố khác. Con mắt thứ ba thu thập được rất nhiều thông tin và biến thông tin ấy thành vầng năng lượng phủ lên những gì mắt bạn nhìn thấy. Trong thực tế, những gì bạn nhìn thấy sẽ hơi khác so với những gì đang thật sự diễn ra; nhưng trí não bạn luôn bổ sung thông tin và giúp bạn vận dụng thông tin đó, nên trải nghiệm của bạn sẽ thay đổi. Nếu nhìn vào nghiên cứu khoa học, bạn sẽ khám phá ra rằng trí não luôn luôn hiệu đính nhận thức của chúng ta. Cho nên con mắt thứ ba dùng năng lực thần kinh tự nhiên này để bổ sung một lượng dữ liệu lớn hơn ta tưởng vào nhận thức của mỗi người.


Đọc vầng năng lượng có thể được xem là năng lực thần bí, tùy theo độ thành thạo của người sử dụng khả năng này. Nhưng thật ra nó chỉ là một kĩ năng rất thật và rõ ràng mà chúng ta có thể học được. Ai cũng có thể học cách đọc vầng năng lượng ở mức căn bản.

Những trường phái như Đạo giáo và Sa Man giáo đã phát triển nên những kĩ thuật rèn luyện bao quát để sử dụng và làm việc cùng con mắt thứ ba. Nó là một giác quan thực thụ, nhưng nó là một “siêu” giác quan và phải được sử dụng và điều chỉnh để phát triển hết tiềm năng. Nó không phải là thứ sinh ra là có sẵn để dùng ngay.

Một cách rất tốt để bắt đầu sử dụng và điều chỉnh giác quan này là kết nối với linh thú hộ mệnh hoặc học thuật “hành trình Sa Man” (thuật xuất hồn). Một tín đồ Sa Man giáo có thể hỗ trợ bạn trong việc triệu hồi linh thú hộ mệnh hoặc hướng dẫn bạn du hành bằng ý thức.

Là một người theo Đạo giáo, tôi đã luôn phát triển con mắt thứ ba của mình từ khi năm tuổi và đã có được tư tưởng đầu tiên. Khi tôi chia sẻ tư tưởng ấy với người khác, tôi ngay lập tức nhận ra rằng đa số mọi người đều không nhìn thế giới theo cách của tôi. Thật không may, tôi bị mọi người ngược đãi. Từ lúc rất trẻ tôi đã học cách giữ kín khả năng ấy và kiên nhẫn khám phá nó trong im lặng theo cách của mình. Chỉ mới gần đây tôi mới mở lời về môn học Đạo giáo này, vì có quá nhiều hiểu lầm và nhận định sai về nó.


Tôi đã có trên 40 năm khám phá con mắt thứ ba của mình, tra khảo lại tài liệu và sử dụng kiến thức nền tôi có được trong cả Đạo giáo và khoa học để tìm hiểu nó. Trong suốt thời gian đó, tôi đã tìm cách dùng từ ngữ để giải thích về con mắt thứ ba sao cho hầu hết mọi người có thể chấp nhận được. Và nhờ thế, tôi đang chia sẻ về nó trong việc giảng dạy của mình.

Nhiều người có phản xạ đè nén khả năng này, thường là để tránh bị chọc ghẹo hoặc bị gọi là người điên. Và, khi bị đè nén đủ lâu, bất kì khả năng nào cũng mai một. Bạn phải sử dụng con mắt thứ ba của mình để nó được phát huy. Hơn nữa, cách bạn dùng nó sẽ quyết định khả năng cảm thụ của nó. Vì tất cả lí do trên và nhiều lí do khác, con mắt thứ ba vẫn còn là một năng lực bí ẩn.


Những nền văn hóa khác nhau dùng những thủ thuật đa dạng để rèn luyện kĩ năng này. Ví dụ như, những tín đồ Đạo giáo rất kiên nhẫn, họ dùng hàng thập kỉ để định hình và tinh luyện khả năng này để giúp họ trở thành nhà hiền triết-nhà tiên tri và có thể nhìn thấy nhiều thông tin. Giải thích theo tính chất của khả năng này thì kinh nghiệm sẽ giúp cải thiện năng lực và độ chính xác. Vì thế, ta phải mất một quá trình dài để sử dụng thuần thục con mắt thứ ba.

Trước tiên, trong số 7 luân xa, bạn cần hiểu rằng ai cũng có con mắt thứ ba hay luân xa số 6, chỉ là tạm thời chưa hoạt động, có thể do rung động chưa tới. Một số người kết hợp với thiền sâu có thể cảm nhận con mắt thứ ba của mình động đậy, số khác sẽ thấy vị trí đó giật giật, ngứa ngứa nhưng cũng có người chẳng thấy dấu hiệu sinh lý nào. Khi thiền, nếu bạn tập trung năng lượng và tập trung tinh thần vào đúng vị trí con mắt thứ ba đó, rồi đẩy năng lượng ra từ từ, theo dõi sự nhìn của mình đi theo cường độ năng lượng. Lúc đầu, sự nhìn vẫn theo xu hướng cũ, vẫn thấy mờ mờ qua mi mắt đang nhắm, nhưng khi thực hành nhìn, sự nhìn đã có thay đổi và bắt đầu nhìn theo lối mới, theo chiều năng lượng phát ra. Sau đó, chúng ta có thể tăng giảm cường độ năng lượng phát ra của mình qua luân xa 6, tức vị trí con mắt thứ ba và theo dõi sự nhìn đồng thời. 


Lưu ý rằng việc tập luyện và sự kiên nhẫn khi mở luân xa số 6 này là rất quan trọng. Nếu bạn mở được thì là tuyệt vời, nhưng nếu không mở được cũng không quan trọng, không nên cố gắng mở bằng mọi cách. Bởi vì nếu bạn luôn đặt trọng tâm của suy nghĩ mình vào việc phải mở bằng mọi cách, bạn sẽ khó vào được trạng thái thiền sâu. Hãy thả lỏng, theo dõi sự nhìn cùng với cường độ năng lượng của mình. Đến một lúc nào đó, khi tập luyện đủ chín muồi, bạn sẽ bắt đầu thấy những điều trước mặt, đôi khi sẽ tối om nhưng bạn có thể cảm nhận được độ sâu của sự tối om đó. Nó không còn là một màn đen mà có thể là một hố sâu đen trước mặt và lúc này bắt đầu xuất hiện sự thay đổi về không gian nhìn. Hãy luôn cẩn thận với con mắt thứ ba của bạn!

SỰ THẬT VỀ CON MẮT THỨ 3 HAY CÒN GỌI LÀ GIÁC QUAN THỨ 6 ( THIÊN NHÃN)



Sự thật giật mình con mắt thứ ba huyền bí của loài người

Gốc
Trong nhiều tôn giáo, tín ngưỡng cổ xưa của nhân loại, con mắt thứ ba được đề cập đến khá nhiều với những khả năng thần bí, khó lý giải.



Con mắt thứ ba còn được gọi là Huệ nhãn hay Tuệ nhãn, Thần nhãn, Thiên nhãn thông... Khái niệm này con mắt thứ 3 được đề cập nhiều nhất trong Phật giáo Ấn Độ, Yoga và các kinh điển của phật giáo Tây Tạng.
Theo một số tài liệu, những người sở hữu con mắt thứ ba thường được cho là những người sở hữu siêu năng lực, có khả năng nhìn thấu tương lai - quá khứ, thần giao cách cảm, chuyển di tư tưởng, giao tiếp từ xa, khả năng thu nhận kiến thức trực tiếp từ trí tuệ của vũ trụ, đọc ý nghĩ của người khác hay khám bệnh tâm linh... Chính vì vậy, con mắt thứ ba được cho là nơi siêu sức mạnh của con người trú ẩn.
Các chuyên gia khoa học cho hay trong bộ não con người có một phần nhỏ gọi là tuyến quả thông (gọi tên theo hình dáng của nó) thường được xem như
con mắt thứ ba ở giữa trán. Nó nằm ở gần chính giữa não, nằm giữa hai bán cầu não. Vì thế nhiều người không nhận được thông tin từ con mắt thứ ba.
Tuyến quả thông cũng chính là cánh cổng chính giữa thể xác và thế giới tâm linh của con người. Một khi tuyến quả thông được đánh thức, con mắt thứ ba sẽ được đồng nhất với trí tuệ con người.
Điều đó khiến cho con người sở hữu khả năng siêu nhiên, biết tất cả mọi thứ đang diễn ra ở nơi cách xa, không nghe không nhìn thấy được. Thậm chí, người sở hữu con mắt thứ ba còn có thể hiểu và điều khiển được ý nghĩ người khác. Khi đó, trí tuệ của con người vượt ra khỏi giới hạn thể xác.
Tuy nhiên, rất ít người thành công trong việc đánh thức con mắt thứ ba. Nhưng cũng có một số người tuyên bố từ khi sinh ra đã sở hữu con mắt thứ ba. Một vị giáo sư ở Mỹ từng tiết lộ có con mắt thứ ba sau khi chào đời. Do khác biệt với mọi người nên bà thường bị châm chọc, trêu ghẹo.
Vì vậy, bà hay dùng tóc để che con mắt thứ ba, tránh ánh mắt kỳ thị, soi mói của người đời. Theo chia sẻ của nữ giáo sư này, con mắt thứ ba có tác dụng đặc biệt mà người thường không thể biết được.
Một số trường hợp đánh thức được con mắt thứ 3 thông qua yoga, thiền và các phương pháp khác. Cũng có trường hợp sở hữu siêu năng lực của con mắt thứ 3 sau khi trải qua một biến cố lớn.
Trong số đó, những trường hợp sở hữu con mắt thứ ba nhờ quá trình tu luyện và thiền tập có lẽ là những nhà Yoga và các Lạt ma Tây Tạng. Những người tập thiền hoặc yoga đều biết đến 7 vùng luân xa năng lực. Trong khi người Tây Tạng gọi đó là những điểm xoáy “Chakra” thì người Hindu (Ấn Độ) gọi là “luân xa”. Trong 7 luân xa đó, luân xa 6 là điểm xoáy quan trọng nhất nằm ở gốc mũi, giữa hai mắt và lông mày. Chính vì vậy, luân xa 6 còn được gọi là "con mắt thứ ba" hay là "giác quan thứ 6".
Nếu người nào trải qua xuất sắc quá trình luyện tập, mở được luân xa 6 thì sẽ đạt tới cảnh giới cao bởi khi đó, trí tuệ sẽ trở nên thông suốt, có khả năng thấy rõ mọi vật. Đồng thời, họ cũng có khả năng dự đoán được nguy hiểm từ khi chúng chưa xảy ra (hay còn gọi là giác quan thứ 6), đọc được suy nghĩ của người khác, di chuyển các đồ vật trong không gian... Tuy nhiên, có rất ít trường hợp mở được luân xa 6.
Sóng âm kích hoạt khai mở con mắt thứ 3 cực mạnh

BÀI ĐĂNG NỔI BẬT

TOP SIÊU PHẨM PHIM HOẠT HÌNH 3D ANIME TIÊN HIỆP VÀ TÂM LINH HUYỀN BÍ HAY NHẤT HIỆN NAY

  🤩🤩🤩SIÊU PHẨM PHIM HOẠT HÌNH 3D TIÊN HIỆP TRUNG QUỐC TINH THẦN BIẾN PHẦN 4 VIETSUB SIÊU HAY                                XEM PHIM ¥. T...

GHÉ XEM BÀI VIẾT CÓ LƯỢT TRUY CẬP NHIỀU NHẤT THANKS